22/09/2019
☝️BIẾNG ĂN Ở TRẺ NHỎ 0-3 TUỔI, VÌ SAO "CHỈ ĂN KHI ĐÓI" QUAN TRỌNG TRONG SUỐT CUỘC ĐỜI TRẺ ?✍️✍️
1.PHÂN BIỆT 3 THỂ BIẾNG ĂN
🤟🏻Biếng ăn sinh lý
Xảy ra nhiều lần trong quá trình phát triển của trẻ, mỗi lần có thể kéo dài 1-2 tuần hay nhiều hơn. Thường xảy ra khi bé trải qua các mốc phát triển lớn như giai đoạn tập lật lẫy, tập bò, tập đi, và cả giai đoạn sau khi bé đã được ăn dặm đủ 2-3 tháng. Nếu như người lớn không xử lý đúng khi trẻ biếng ăn sinh lý thì có thể từ biếng ăn sinh lý sẽ kéo theo biếng ăn tâm lý, khiến tình trạng này kéo dài hơn nữa.
✌️Biếng ăn tâm lý
Biếng ăn tâm lý xuất phát từ các nguyên nhân về môi trường. Những thay đổi về môi trường sống như chuyển nhà, chuyển trường, thậm chí chuyển từ phòng này sang phòng kia, chuyển từ nằm cũi sang nằm giường hay ngược lại... ; thay đổi về môi trường chăm sóc như thay cô giáo, người giúp việc, mẹ đi làm, có em bé mới... ; thay đổi trong lịch sinh hoạt do di chuyển nhiều... cũng có thể gây ra biếng ăn tâm lý ở trẻ nhỏ. Nếu người lớn tỏ thái độ lo lắng, ép trẻ ăn thì tình trạng biếng ăn tâm lý sẽ ngày càng trầm trọng hơn, kéo dài hơn.
👍Biếng ăn bệnh lý
Biếng ăn bệnh lý khá dễ nhận ra, thường xảy ra trước và trong khi trẻ bị bệnh/bị ốm. Từ sơ sinh đến mốc 3 tuổi, trẻ sẽ trải qua những giai đoạn « ốm » tăng trưởng, thường rơi vào các mốc phát triển vượt bậc của trẻ. Khi đó, các chất dinh dưỡng và rất nhiều năng lượng của trẻ dành tập trung vào phát triển một khu vực, hay một kỹ năng nào đó, khiến cho hệ miễn dịch yếu đi, nên dễ bị virus, vi khuẩn tấn công. Trong khi trẻ ốm, cơ thể trẻ cũng tập trung năng lượng cho việc chiến đấu chống lại virus, vi khuẩn và giảm năng lượng cho việc tiêu hoá thức ăn, do đó mà trẻ biếng ăn.
Lưu ý khi trẻ ốm :
• Cho trẻ uống nhiều nước
• Nghỉ ngơi ở nhà
• Đảm bảo giấc ngủ ngon
• Không ép trẻ ăn trong khi trẻ bệnh, có thể dẫn đến biếng ăn tâm lý sau đó
2. NHỮNG THÓI QUEN NÀO CÓ THỂ GÂY RA BIẾNG ĂN ?
- Ăn vặt : Trẻ ăn nhiều lần trong ngày, ăn không đúng bữa, ăn khi chưa đói. Đứa trẻ được ăn liên tục sẽ không bao giờ thực sự cảm thấy đói hay thấy no.
- Thiếu vận động : Trẻ ngày nay được cho ăn nhiều nhưng vận động quá ít, thức ăn vào mà không có cơ hội được chuyển hoá thành năng lượng nên trẻ không biết đói.
- Thói quen ăn không tốt : Rất nhiều trẻ vừa ăn vừa xem TV, vừa ăn vừa chạy nhảy... khiến cho não bộ phải xử lý nhiều thông tin cùng lúc, phát những tín hiệu sai hoặc tín hiệu bị nhiễu loạn. Khi không có những phương tiện đấy thì trẻ không ăn, biếng ăn.
- Bữa ăn tuỳ hứng : Lịch sinh hoạt của trẻ thất thường, mỗi ngày lại ăn vào một giờ khác nhau, ăn ở một nơi khác nhau, tức là môi trường thay đổi nhiều quá khiến trẻ rơi vào biếng ăn sinh lý.
- Chế độ ăn quá nghiêm ngặt : Ngược lại với giờ ăn tuỳ hứng là chế độ ăn thiếu linh hoạt, bắt buộc là trẻ phải ăn vào giờ này, ăn món này, lượng từng này mà không xét đến sự thay đổi của ngày hôm đó, ví dụ hôm nay trẻ vận động nhiều hơn mọi hôm, trẻ thức dậy sớm hơn mọi hôm, hay thời tiết hôm nay quá oi bức...
3. CHU KÌ SINH HỌC CỦA VIỆC ĂN
Về cơ bản, chu kì sinh học của việc ăn (đói – no) sẽ giúp bố mẹ quyết định trẻ có cần ăn vào lúc đó hay không, bố mẹ có cần phải lo lắng, có cần phải cho trẻ ăn/ép trẻ ăn hay không ?
Khi thức ăn đã được tiêu hoá hết --> hệ thần kinh trong dạ dày sẽ gửi tín hiệu « đói » lên não. Cảm giác đói mà chưa được đáp ứng sẽ khiến trẻ khó chịu và khóc (khi trẻ chưa biết nói), tiếng khóc khi đói của trẻ sẽ khác hoàn toàn với những tiếng khóc khác, thể hiện những nhu cầu khác như khóc vì buồn ngủ, khóc vì đau, khóc vì cảm thấy không an toàn...
Nếu người lớn đủ nhạy cảm và đủ quan sát thì sẽ nhận ra tiếng khóc phát tín hiệu « đói » đặc trưng của trẻ. Khi đó, việc của người lớn là cho trẻ ăn, và tiếp tục quan sát. Khi dạ dày của trẻ đã đầy, tức là trẻ đã « no », hệ thần kinh ở dạ dày sẽ gửi tín hiệu đã « thoả mãn » tới não. Não bộ lại truyền đi các tín hiệu tới cơ thể để từ chối việc ăn, bằng cách như : miệng ngậm lại, lắc đầu, tay đẩy thức ăn ra, hoặc ra khỏi chỗ ăn, ném thức ăn...
Nếu người lớn không đủ nhạy cảm, quan sát mà cho trẻ ăn khi trẻ chưa đói, hoặc ép trẻ ăn khi trẻ đã no thì các tín hiệu phát ra và truyền đi trong cơ thể trẻ bị nhiễu loạn.
4. VÌ SAO ĐƯỢC CHO ĂN ĐÚNG TỪ ĐẦU QUAN TRỌNG CHO CẢ CUỘC ĐỜI CỦA TRẺ ?
Khi trẻ rất nhỏ, còn trong giai đoạn bú mớm, trẻ chỉ có thể khóc để báo hiệu cho người khác biết về các nhu cầu của mình. Điều thú vị là tiếng khóc của trẻ sơ sinh được tự nhiên thiết kế để gây chú ý, để báo động, vì vậy đa số người lớn cảm thấy tiếng trẻ con khóc rất khó chịu và chỉ muốn làm trẻ ngưng khóc ngay lập tức.
Trong giai đoạn bú mớm này, hầu hết các bà mẹ cũng phát hiện ra rằng ngậm ti mẹ/ti giả hoặc bình sữa là cách vô cùng hiệu quả để dỗ trẻ. Điều đó đúng nhưng chưa đủ.
Như trên đã nói, trẻ dùng tiếng khóc để báo hiệu rất nhiều điều khác nhau. Nếu trẻ khóc mà được cho ăn/cho bú khi mà không phải là trẻ đang đói, thì sẽ gây ra nguy cơ :
• Trẻ bị phụ thuộc vào ti mẹ/ thức ăn để giải toả các cảm xúc khác
• Trẻ bú vặt, bú đêm nhiều lần, khiến cả mẹ và con đều thiếu ngủ, ngủ không ngon
• Trẻ không học được cách giao tiếp các nhu cầu khác nhau của mình
• Trẻ quen với việc ăn khi không đói, hệ quả lâu dài sẽ dẫn tới béo phì, ăn uống vô tội vạ
Để phân biệt và đoán được nguyên nhân tiếng khóc của trẻ không khó nhưng cần thời gian. Lời khuyên cho một người mẹ mới sinh là hãy thử và loại trừ : khi trẻ khóc, hãy đợi một chút, nghĩ xem liệu có phải trẻ đói không? Nếu không, hãy kiểm tra để loại trừ các yếu tố gây khó chịu như trẻ buồn ngủ, trẻ nóng, bỉm bẩn, bị kích thích quá mức... hay đơn giản chỉ là trẻ muốn được mẹ bế lên. Không nên ngay lập tức dỗ trẻ bằng ti mẹ, hay tương tự là bằng bánh kẹo, bằng thức ăn.
Tóm lại : Chỉ cho trẻ ăn khi chắc chắn là trẻ đói, khi không đói thì không nên ăn. Để thực hiện được điều này thì bố mẹ cần quan sát trẻ nhiều hơn, tôn trọng chu kì sinh học của trẻ, và kiểm soát sự lo lắng của mình tránh vô tình đẩy bé vào tình trạng biếng ăn tâm lý. Quá trình và kết quả học cách ăn đúng cách của trẻ thì quan trọng hơn và xứng đáng hơn nhiều việc trẻ ăn được thêm cơm, tăng được thêm cân.
St