19/11/2025
QUAN PHỤC THỜI LÊ – QUAN NHỊ PHẨM
Đã đến lúc quay lại với trang phục quan lại thời Lê (1428–1789). Triều Lê tồn tại hơn 300 năm, trải qua nhiều biến động lớn như bị gián đoạn bởi triều Mạc, rồi Trịnh–Nguyễn phân tranh. Việc thất tán tư liệu khiến việc nghiên cứu trang phục gặp không ít hạn chế, nên thiết kế của mình dựa trên việc tổng hợp tư liệu trong suốt giai đoạn nhà Lê, lấy Vua Lê làm gốc, không phải phục dựng tuyệt đối, mong mọi người không dùng làm tư liệu dẫn chứng lịch sử,
Bài viết và thiết kế có tham khảo “Ngàn Năm Áo Mũ” của tác giả Trần Quang Đức
Cơ cấu quan lại thời Lê, đặc biệt là Lê Sơ (thế kỷ XV–XVI) và Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI–XVIII), được tổ chức rất quy củ theo mô hình Trung Hoa nhưng có điều chỉnh phù hợp với Việt Nam.
Hàng Nhị phẩm là cấp bậc rất cao, chỉ đứng sau Nhất phẩm, thường nắm giữ quyền lực trọng yếu trong triều đình. Các chức vụ thường thuộc Nhị phẩm gồm:
- Thượng thư – đứng đầu một bộ.
- Đô Ngự sử – lãnh đạo cơ quan giám sát.
- Trấn thủ – đứng đầu một trấn/tỉnh lớn.
- Thị lang – phó của Thượng thư.
- Đô Đốc, Tổng binh – tướng lĩnh quân sự cao cấp.
*Lưu ý: Từ Lê Trung Hưng trở đi, nhiều chức vụ mang tính danh nghĩa vì quyền thực tế chuyển về phủ chúa Trịnh.
THIẾT KẾ TRIỀU PHỤC QUAN NHỊ PHẨM
Quan văn
- Áo bổ phục song hạc (tòng phẩm), màu đỏ. Hung Bối được thiết kế dựa trên điêu khắc và họa tiết thời Lê
- Mũ ô sa đen (phốc đầu cải tiến).
- Đai sừng tê sức bạc.
Quan võ
- Áo bổ phục sư tử, màu đỏ.Hung Bối được thiết kế dựa trên điêu khắc và họa tiết thời Lê
- Mũ ô sa đen (phốc đầu cải tiến).
- Đai sừng tê sức bạc.
THƯỜNG PHỤC
Quan văn
Áo trực lĩnh đại khâm, phối đối khâm bán tí.
Đầu đội mũ Bình Đính.
Quan võ
Áo trực lĩnh đại khâm hai lớp, đeo dây thao đơn.
Tóc búi thấp (mình làm khác đi một chút thay vì đội mũ Thanh Cát hoặc các loại mũ võ khác – phần này mình sẽ viết chi tiết ở bài sau).
--------------
TRỰC LĨNH
Áo Trực Lĩnh (直領 – cổ áo thẳng) cổ áo chếch thẳng xuống, giao nhau ở phía dưới", là nhóm trang phục truyền thống phổ biến thời Hậu Lê (thế kỷ XVII–XVIII). Ba dạng chính gồm:
- Bù Long – áo đối khâm (對襟), bốn thân, không có vạt cả.
- Tràng bạt – áo giao lĩnh (交領), năm hoặc sáu thân, có vạt cả.
- Áo cổ thìa – năm hoặc sáu thân, có vạt cả, buộc gút ở giữa.
MŨ BÌNH ĐÍNH
Mũ Bình Đính nghĩa là “mũ có đỉnh bằng phẳng”, là dạng mũ quan đặc trưng của các triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt thịnh hành dưới thời Lê Sơ và Lê Trung Hưng, chủ yếu dùng cho quan văn.
Theo Phạm Đình Hổ, thời Lê Trung Hưng mũ được làm dạng lục lăng, dáng thấp, dùng trong tế lễ. Về sau mũ được cải tiến thành mũ thường phục cho vua, quan, vương công và nho sĩ, và phân biệt đẳng cấp bằng chiều cao và trang sức:
Mũ viên thế Bình Đính (thân tròn, đỉnh phẳng), làm bằng lông đuôi ngựa, có sức vàng ở trán, là mũ thường nhật của vua chúa, đồng thời là thường phục của hoàng tử và vương tử.
Mũ thái giám có đỉnh lõm, phân biệt với dạng đỉnh phẳng của quan lại.
Qua tranh vẽ thời Lê Trung Hưng còn lại, có thể thấy mũ Bình Đính thường màu đen, dáng khá cao, và mũ của văn nhân – nho sĩ không có trang sức.
Vị quan Triều Tiên là Mân Ám trong phần tấu trình với vua Túc Tông khi miêu tả đoàn sứ Đại Việt sang Bắc Kinh cho biết: ngoài chánh sứ, “những người đi theo đều mặc áo đen, đội mũ đen cao, bất kể sang hèn đều xõa tóc”, cho thấy kiểu mũ Bình Đính thời kỳ này mang dáng cao và phổ biến trong tầng lớp trí thức.
Ps: ai muốn tham khảo thêm các bài viết khác về quan phục do mình nghiên cứu và thiết kế có thể lướt lại các bài cũ của mình nha.
Ai ý kiến góp ý gì cứ để dưới comment kèm tư liệu nha! Đây chỉ là bản vẽ phác thảo khi vào làm thực tế mình sẽ xem lại ý kiến của các bạn để chỉnh sửa lại hợp lý nhất! Cảm ơn mọi người