Nguyễn Bích Ngân

Nguyễn Bích Ngân ���Thường trả lời trong vòng 1 giờ

CỨU NGẢI TRỊ LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ 7...Bài: Đào Đại Trưởng.Hướng dẫn chi tiết cứu ngải và day bấm huyệt điều trị liệt dâ...
12/12/2025

CỨU NGẢI TRỊ LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ 7...
Bài: Đào Đại Trưởng.

Hướng dẫn chi tiết cứu ngải và day bấm huyệt điều trị liệt dây thần kinh số 7 do lạnh.

▪ Kỹ thuật cứu ngải:
- Khoảng cách từ điếu ngải đến da: 1,5 - 2 cm.
- Cứu đến khi cảm thấy nóng nhiều ở huyệt.
- Mỗi huyệt cứu 3-5 lần.
- Chuyển sang huyệt khác khi đã nóng.
- Làm 2-3 lần/ngày.

▪Các huyệt cần cứu và day bấm (bên liệt) bên không liệt thì xoa bóp giúp mềm cơ:

Ế Phong
Dương Bạch
Ngư Yêu
Toản Trúc
Tình Minh
Ty Trúc Không
Nghinh Hương
Giáp Xa
Địa Thương
Nhân Trung
Thừa Tương
Thừa Khấp
Quyền Liêu.

▪Chú ý với vùng mắt:
Day bóp và kéo nhẹ để giúp mắt khép lại.
Động tác phải đủ lực để mang lại hiệu quả.

▪Kỹ thuật day bóp:
Áp lực vừa phải nhưng quyết liệt
Kéo da về phía bên bị liệt
Không gây đau nhưng phải có cảm giác mạnh.

▪Lưu ý quan trọng:
Kiên trì thực hiện.
Theo dõi diễn biến.
Nếu không cải thiện, nhanh chóng đến cơ sở y tế chuyên khoa...!

Đào Đại Trưởng.

MỆNH MÔN “Mệnh” được hiểu là sinh mệnh, là nơi sự sống bắt đầu. “Môn” có nghĩa là cửa ra vào. "Mệnh môn" được hiểu là nơ...
08/12/2025

MỆNH MÔN

“Mệnh” được hiểu là sinh mệnh, là nơi sự sống bắt đầu.
“Môn” có nghĩa là cửa ra vào.
"Mệnh môn" được hiểu là nơi bắt đầu sinh mệnh của con người, căn nguyên của mạng sống.

Những bàn luận đầu tiên về Mệnh môn được tìm thấy ở Nạn kinh, đặc biệt ở Nạn 36 viết: "Mỗi tạng đều có một (tạng), chỉ có Thận là có đến hai (tạng) tại sao thế?
Thực vậy: Thận có đến hai tạng, nhưng không phải đều là Thận, bên trái gọi là Thận, bên phải gọi là Mệnh môn. Mệnh môn là nơi "ở" của Thần và Tinh, là nơi ràng buộc của nguyên khí. Ở con trai, (Mệnh môn) là nơi tàng giữ tinh khí; ở con gái, (Mệnh môn) là nơi ràng buộc với việc thụ thai. Vì thế ta biết Thận có một"

Dựa theo Nạn Kinh, Mệnh môn tương ứng với tạng Thận phải và do đó không tách rời chức năng của tạng Thận.

Tác phẩm Mạch kinh viết bởi Vương Thúc Hòa triều Hán xác nhận điều này khi cho rằng trong mạch chẩn bộ Xích của tay phải dùng để khảo sát tạng Thận và Mệnh môn.

Trần Vô Trạch thời nhà Tống đã viết: "Y văn xưa cho rằng Thận trái là Thận đơn thuần, liên quan đến Bàng quang và Thận phải là Mệnh môn, liên quan đến Tam tiêu".

Tuy vậy, trong nhiều thế kỉ, cho đến thời nhà Minh, các y gia ít tách riêng Mệnh môn và tạng Thận, thường đơn giản xem Mệnh môn tương đương với Thận khí.

Kể từ thời nhà Minh, khái niệm Mệnh môn được phát triển mạnh mẽ và khác với khái niệm được đề cập đến trong Nạn kinh. Trong suốt thời nhà Minh, các y gia Trung Quốc không còn xem Mệnh môn như là một phần của Thận phải, mà là một thực thể độc lập giữ vị trí giữa hai tạng Thận.

Trương Giới Tân (1563 - 1640) nói: "Có hai Thận,... Mệnh môn nằm giữa chúng,... Mệnh môn là tạng của Thủy và Hỏa, là nơi trú ngụ của Âm và Dương, là bể của tinh và nó quyết định đến sự sống và chết".

Lý Thời Trân cũng nói rằng: “Mệnh môn nằm giữa hai tạng Thận.”

Triệu Hiến Khả là y gia có những nghiên cứu sâu nhất, cống hiến lớn nhất về Mệnh môn và được phản ánh rõ nét trong tác phẩm Y quán xuất bản năm 1687. Phần lớn sách của ông nói bàn luận về khía cạnh sinh lý học và bệnh lý học của Mệnh môn. Triệu Hiến Khả cho rằng vị trí Mệnh môn nằm giữa hai Thận, là động lực thúc đây các hoạt động chức năng của cơ thể, là nguồn Hoả nhiệt rất cần thiết cho sự sống. Hỏa này cũng được gọi là CHÂN HOẢ hoặc Tướng hỏa. Tầm quan trọng của Mệnh môn hoả nằm ở chỗ nó mang đến nhiệt cho toàn bộ hoạt động chức năng cơ thể và cho bản thân Thận tinh.
Tạng Thận không như các tạng khác, tạng Thận là nguồn gốc của Thuỷ Hoả của cơ thể, là chân âm và chân dương. Mệnh môn là biểu hiện của hỏa nắm giữa hai tạng Thận và tướng hỏa là một dạng đặc biệt của hỏa, nó không chỉ không tách biệt với thủy, mà còn có thể sinh ra thuỷ.

Ở khía cạnh này, thuyết mệnh môn lại thể hiện sự mâu thuẫn với thuyết Ngũ hành, khi mà Hoả tương ứng với tạng Tâm, chứ không phải là Mệnh môn (hay tạng Thận). Các học thuyết này cơ bản vì có nguồn gốc từ hai quan điểm khác nhau nên đều có giá trị.

Thực vậy, hai hỏa (từ tạng Tâm và từ tạng Thận) được gọi là quân hỏa và tướng hỏa, đều quan trọng như nhau. Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng thuyết cho rằng chân hỏa xuất phát từ Mệnh môn, cũng như từ tạng Thận, thường thể hiện rõ ràng hơn và được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị các bệnh lý dương hư hoặc tướng hỏa suy. Ví dụ, khi Tỳ dương và Thận dương cạn kiệt và tướng hóa suy, người bệnh có triệu chứng như mệt mói, kiệt sức, phù,... và khi đó cần phải bồi bổ tướng hỏa của tạng Thận chứ không phải quân hỏa của tạng Tâm.

■ NHỮNG CHỨC NĂNG CHÍNH CỦA MỆNH MÔN:

1. Là nguồn gốc của Nguyên Khí
Cả Mệnh môn và nguyên khí đều có liên hệ với tạng Thận và phụ thuộc lẫn nhau.
Nguyên khí là dạng thăng hoa vận động của tinh, có rất nhiều chức năng, trong đó có vai trò tham gia vào sự tạo huyết. Nguyên khí dựa vào nhiệt để vận hành và nhiệt này được cung cấp bởi Mệnh môn. Nếu Mệnh môn hỏa hư thiếu, nguyên khí sẽ bị ảnh hưởng và chắc chắn sẽ dẫn tới thiếu hụt khí và huyết.

2. Là nguồn của hỏa (sinh lý) cho hoạt động các tạng phú
Tất cả các tạng phủ đều dựa vào hỏa nhiệt được cung cấp bởi hỏa của Mệnh môn để thực hiện chức năng một cách phù hợp.
- Tạng Tỳ cần nhiệt để vận hóa thủy cốc
- Phủ Vị cần nhiệt để làm nhừ thức ăn
- Tạng Tâm cần nhiệt để soi sáng thần minh,
- Tạng Phế cần nhiệt để giáng khí và tán khí,
- Tạng Can cần nhiệt để sơ tiết
- Phủ Tiểu trường cần nhiệt để phận biệt thanh trọc
- Phủ Đởm cần nhiệt để tiết đởm trấp
- Phủ Tam tiêu cần nhiệt để vận chuyển và bài tiết tân dịch.

Nếu hỏa của Mệnh môn suy, hoạt động chức năng của các tạng phủ sẽ suy yếu theo, dẫn đến các triệu chứng mệt mỏi, trầm cảm, thiếu sức sống và sợ lạnh.

3. Làm ấm Hạ tiêu và phủ Bàng quang
Hạ tiêu vận chuyển và bài tiết tân dịch, với sự trợ giúp của phủ Bàng quang. Nhiệt của Mệnh môn là thiết yếu để biến đổi tân dịch ở Hạ tiêu. Nếu hỏa Mệnh môn suy, Hạ tiêu và phủ Bàng quang sẽ thiếu nhiệt lượng cần thiết để biến đổi tân dịch, điều này sẽ dẫn đến tích tụ thấp và gây phù.

4. Làm ấm phủ Vị và tạng Tỳ giúp tiêu hóa thức ăn
Nhiệt là cần thiết đề tạng Tỳ thực hiện chức năng vận chuyển, phân tách, chuyển hóa.
Tất cả các chức năng trên cân sự hỗ trợ của nhiệt từ Mệnh môn. Nếu Mệnh môn hoả suy, tạng Tỳ không thể chuyển hóa, phủ Vị không thể tiêu hóa; điều này dẫn đến tiêu chảy, mệt mỏi, sợ lạnh và lạnh tứ chi.

5. Điều hòa chức năng sinh dục và làm ấm Tinh thất, Bào cung
Hỏa của Mệnh môn là thiết yếu để cơ thể thực hiện đầy đủ các chức năng sinh dục, giúp làm ấm Bào cung cũng như Tinh thất. Tướng hỏa (Mệnh môn hỏa) có thể được xem là phần dương của tinh (của nam và nữ). Hoạt động sinh dục, sinh sản, dậy thì, hành kinh đều phụ thuộc vào hỏa Mệnh môn. Nếu hỏa của Mệnh môn suy, Tinh thất ở nam giới và Bào cung ở nữ giới sẽ bị lạnh, dẫn đến rối loạn cương và vô sinh ở nam giới cũng như giảm ham muốn và vô sinh ở nữ giới.

6. Hỗ trợ tạng Thận trong chức năng nạp khí
Chức năng nạp khí phụ thuộc vào Thận dương và cần sự hỗ trợ của Mệnh môn. Để Thận dương hoàn thành chức năng này một cách bình thường, cần phải có sự liên kết giữa Tông khí ở ngực và Nguyên khí ở bụng dưới, mà sự liên kết này phụ thuộc vào hỏa nhiệt từ Mệnh môn. Nếu hỏa của Mệnh môn suy, tạng Thận suy giảm chức năng nạp khí, gây ra khó thở, suyễn, tức ngực và lạnh tay.

7. Trợ giúp tạng Tâm chủ thần minh
Hỏa của Mệnh môn phải thăng từ tạng Thận để liên hệ với tạng Tâm (Thuỷ Hoả ký tế), cung cấp đủ nhiệt cho tạng Tâm thực hiện chức năng của mình. Do vậy, Mệnh môn hỏa hỗ trợ tạng
Tâm trong việc chủ thần minh. Điều này có nghĩa Mệnh môn hỏa có ảnh hưởng lớn đến tình trạng trí tuệ và tình chí của con người.
Nếu hỏa Mệnh môn suy, tạng Tâm không chủ thần minh, người bệnh sẽ trầm cảm, không vui, thiếu sức sống. Ngược lại, nếu tướng hỏa của Mệnh môn có bệnh lý, hỏa vượng làm quấy nhiễu tạng Tâm...!

Cre: Fb Thời Yến.
.

LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ 7 NGOẠI BIÊNNhững triệu chứng thường gặp 👉Khi không cử động 🌿Hai bên mặt không cân đối, các cơ mặt...
03/12/2025

LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ 7 NGOẠI BIÊN
Những triệu chứng thường gặp
👉Khi không cử động
🌿Hai bên mặt không cân đối, các cơ mặt bị kéo về bên lành, nửa mặt bên bệnh bất động và nhẽo (giảm trương lực cơ), mất nếp nhăn trán, lông mày hơi sụp xuống, má hơi xệ, rãnh mũi - má mờ, góc mép miệng bị xệ xuống
❌Tuy nhiên, trong giai đoạn muộn có nhiều trường hợp mặt bệnh nhân khi không cử động nhìn thấy mặt cân đối, chỉ khi cử động mới thấy mất cân đối
👉Khi cử động
🌿Mặt và mắt cân đối rõ rệt hơn.
+ Bên bệnh không nhăn trán được, mắt không nhắm kín (dấu hiệu hở mi - lagophthalmus), không làm được động tác nhe răng, phồng má, mím môi, huýt sáo, thổi lửa, chau mày
+ Dấu hiệu Charles - Bell dương tính: biểu hiện là khi bệnh nhân nhắm mắt chủ động, mắt bên liệt nhắm không kín, nhãn cầu vận động lên trên và ra ngoài (khi đó giác mạc lẩn dưới mi trên, củng mạc trắng lộ rõ giữa hai khe mi)
+ Dấu hiệu Negro: khi bệnh nhân ngước mắt nhìn lên trên, đồng tử bên tổn thương ở vị trí cao hơn bên lành

🤰 Sự thay đổi cơ thể của người phụ nữ đáng kinh ngạc khi mang thai 💫Hình ảnh này so sánh tuyệt đẹp với giải phẫu nội kho...
29/07/2025

🤰 Sự thay đổi cơ thể của người phụ nữ đáng kinh ngạc khi mang thai 💫

Hình ảnh này so sánh tuyệt đẹp với giải phẫu nội khoa trước và trong khi mang thai - cho thấy sự điều chỉnh đáng kinh ngạc cơ thể của một người phụ nữ để phát triển cuộc sống mới! 🧠💓

🔍 Trước khi mang thai:
Tử cung nhỏ và làm kín thấp ở xương chậu. Các cơ quan như dạ dày, gan và ruột được nghỉ ở các vị trí bình thường. Bàng quang ngồi tự do không áp lực. Tất cả hoạt động nhẹ nhàng và cân bằng. ⚖️

👶 Trong quá trình mang thai:
Khi bé lớn lên, tử cung mở rộng đáng kể - đẩy ruột lên trên, nén bàng quang, chuyển dạ dày và gan để nhường chỗ cho bé. Thậm chí phổi cũng bị nén nhẹ, đó là lý do tại sao nhiều phụ nữ mang thai cảm thấy khó thở trong giai đoạn sau. 😮 💨💨

💡 Sự thay đổi này có thể dẫn đến:
• Các vấn đề tiêu hóa 🤢 (như bỏng tim & táo bón)
• Đi tiểu thường xuyên 💧
• Khó thở 🫁
• Đau lưng do thay đổi cong cột sống 🌀

🎯 Cơ thể phụ nữ là tuyệt tác của khả năng thích nghi! Dù có tất cả những thay đổi này, nó vẫn tiếp tục nuôi dưỡng và bảo vệ cuộc sống đang phát triển bên trong. Thực sự là một phép màu của thiên nhiên! 🌍👩 🍼

👏 Chia sẻ bài này để lan tỏa nhận thức và trân trọng sức mạnh và sự dẻo dai của phụ nữ mang thai khắp nơi!

🔥 ZONA THẦN KINH – HƯỚNG DẪN PHÁT HIỆN SỚM VÀ ĐIỀU TRỊZona thần kinh là bệnh do virus gây tổn thương thần kinh và da, th...
04/06/2025

🔥 ZONA THẦN KINH – HƯỚNG DẪN PHÁT HIỆN SỚM VÀ ĐIỀU TRỊ

Zona thần kinh là bệnh do virus gây tổn thương thần kinh và da, thường đau rát dữ dội, nổi mụn nước thành từng đám theo một bên cơ thể. Phát hiện sớm và điều trị đúng giúp giảm đau, nhanh khỏi, ngăn biến chứng.

🦠 Zona là gì?

👉Gây ra bởi virus Varicella-Zoster – cũng là thủ phạm gây thủy đậu.
👉Sau khi khỏi thủy đậu, virus ẩn trong rễ thần kinh – đến khi miễn dịch suy yếu, virus tái hoạt → gây zona.
👉Thường gặp ở người lớn tuổi, người suy giảm miễn dịch, căng thẳng kéo dài, mất ngủ.

📍 Dấu hiệu nhận biết sớm

🔎 Triệu chứng khởi đầu (1–3 ngày đầu):

- Cảm giác đau rát, nóng bỏng, tê hoặc ngứa ran tại một vùng da – thường chỉ ở 1 bên cơ thể
- Mệt mỏi nhẹ, đôi khi sốt, đau đầu

🔎 Sau đó 1–3 ngày:

- Nổi mụn nước nhỏ thành cụm, như “chuỗi hạt”, trên nền da đỏ → dễ vỡ → đóng vảy tiết
- Vị trí hay gặp: liên sườn, cổ, mặt, vùng mắt, sinh dục

⚠️ Nếu zona ở vùng mắt → có thể gây mù lòa nếu không điều trị sớm

💊 Hướng dẫn điều trị tham khảo

1. Kháng virus – càng sớm càng tốt
Dùng trong 72 giờ đầu sau khi nổi mụn nước sẽ giảm đau – ngừa biến chứng:

💊 Acyclovir 800mg x 5 lần/ngày x 7 ngày
Hoặc:
💊 Valacyclovir 1000mg x 3 lần/ngày x 7 ngày
👉 Nên uống càng sớm càng tốt (tốt nhất trong vòng 3 ngày đầu)

2. Giảm đau – chống viêm

💊 Paracetamol hoặc Ibuprofen nếu đau nhẹ
💊 Pregabalin hoặc Gabapentin (theo chỉ định) nếu đau thần kinh kéo dài
💊 Có thể kết hợp kháng histamin nếu ngứa nhiều

3. Bôi ngoài da – chăm sóc tổn thương

☑️Rửa nhẹ vùng da bằng nước muối sinh lý
☑️Bôi Xanh methylen hoặc Eosine 2% giúp khô nhanh
☑️Tránh bôi thuốc mỡ chứa corticoid hoặc kháng sinh nếu không chỉ định

4. Phòng ngừa lây lan và biến chứng

✅ Không gãi – không tự chọc mụn nước
✅ Tránh tiếp xúc với phụ nữ có thai, trẻ nhỏ, người suy giảm miễn dịch
✅ Nghỉ ngơi – giữ tinh thần thoải mái
✅ Nếu có tổn thương vùng mắt – đi khám chuyên khoa mắt ngay

🚨 Biến chứng cần chú ý:

❗ Đau dây thần kinh sau zona: đau kéo dài nhiều tháng dù da đã lành
❗ Nhiễm trùng da nếu chăm sóc sai
❗ Zona mắt → biến chứng giác mạc, giảm thị lực

🎯 Nếu được phát hiện và điều trị đúng từ sớm, phần lớn bệnh nhân zona sẽ khỏi sau 7–10 ngày mà không để lại di chứng.
Nguồn: Ds Vũ Chung Thành

Bạn có biết rằng có một tình trạng phổ biến có thể gây ra những cơn đau đáng kể ở ngón tay cái của bạn không? Nó được gọ...
07/05/2025

Bạn có biết rằng có một tình trạng phổ biến có thể gây ra những cơn đau đáng kể ở ngón tay cái của bạn không? Nó được gọi là hội chứng De Quervain.
Điều này xảy ra khi các gân di chuyển ngón tay cái của bạn trở nên kích ứng và sưng to. Nghĩ về tất cả những việc chúng ta làm với đôi tay mỗi ngày - đánh máy, nhắn tin, nâng máy, thậm chí chỉ cầm điện thoại! Những chuyển động lặp đi lặp lại đôi khi có thể dẫn đến điều này.
Các triệu chứng thường gặp có thể bao gồm:
* Đau ở ngón tay cái của cổ tay, đặc biệt là khi bạn di chuyển ngón tay cái hoặc làm nắm đấm.
* Sưng ở khu vực đó.
* Một cảm giác "dính" hoặc "dừng và đi" khi di chuyển ngón tay cái của bạn.
* Đôi khi, cơn đau thậm chí còn có thể du hành lên cánh tay của bạn.
Nếu bạn đang gặp những triệu chứng này, đi khám là một ý tưởng tốt! Chẩn đoán và quản lý sớm thực sự có ích.
Những cách tiếp cận điển hình để cảm thấy tốt hơn có thể bao gồm:
* Nghỉ ngơi ngón tay cái và cổ tay của bạn.
* Đeo mảnh để hỗ trợ.
* Dùng đá để giảm sưng.
* Thuốc giảm đau qua quầy.
* Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể khuyên nên tiêm hoặc thậm chí là trị liệu.
Chăm sóc đôi bàn tay của chúng ta rất quan trọng! 💪

Bell's PalsyKhi một mặt im lặng• Bạn đã bao giờ thây ai đó đột nhiên mất di chuyên nứa khuôn mặt chưa?- Đó có thể là Bel...
05/05/2025

Bell's Palsy
Khi một mặt im lặng

• Bạn đã bao giờ thây ai đó đột nhiên mất di chuyên nứa khuôn mặt chưa?
- Đó có thể là Bell's Palsy, một điều kiện khiến người khác mất cảnh giác, nhưng với nhận thức và phục hồi chức năng đúng đắn, thường có thể phục hồi
• Bell's Palsy là gì?
- Bell's Palsy là một tình trạng liệt hoặc yếu cơ mặt tạm thời ở một bên mặt, do viêm hoạc chèn ép dây thần kinh mặt (thần kinh sọ VII) : Dây thần kinh này kiểm soát : (Biểu hiện khuôn mặt -
Sản xuất nước mắt và nước bọt - Một phần cảm giác vị giác )
• Nguyên nhân & kích hoạt
- Trong khi nguyên nhân chính xác vẫn chưa rõ ràng, một số kích hoạt có thể bao gồm:
1) Nhiễm trùng do virus (giống như herpes simplex)
2) Căng thẳng hay mệt mỏi quá
3) Phản ứng miễn dịch ảnh hưởng đến chức năng thần kinh
4) Tiếp xúc lạnh (giống như ngủ với quạt hoặc điều hòa thổi vào mặt)

• Dấu hiệu & Triệu chứng thường gặp
- Tự nhiên rớt 1 bên mặt
- Không thế nhắm một mắt
- Chảy nước miếng từ phía bị ảnh hưởng
- Mất vị giác (trước lưới)
- Đau đầu hay đau sau tai
- Độ nhạy tăng cao với âm thanh (phần tăng cường) ở mặt bị ảnh hưởng
• Chẩn đoán & Quản lý Ua
- Chấn đoán là lâm sàng nhưng có thế liên quan đến MRI hoặc xét nghiệm máu để loại trừ các tình trạng khác.
- Điều trị có thể bao gồm:
1) Corticosteroids (đê giảm viêm)
2) Thuốc kháng virus (nếu nghi ngờ nguồn gốc virus)
3) Vật lý trị liệu & bài tập khuôn mặt để tái giáo dục thần kinh cơ
4) Bảo vệ mắt (tránh khô hoặc tổn thương nếu mắt không thể đóng đúng cách)

Nguồn: Bác sĩ vật lý trị liệu

Eczema – Mô tả ngắn📌 Định nghĩa🔹 Eczema hay còn gọi là viêm da cơ địa là tình trạng da lâu năm gây viêm nhiễm, mẩn đỏ, k...
05/05/2025

Eczema – Mô tả ngắn

📌 Định nghĩa
🔹 Eczema hay còn gọi là viêm da cơ địa là tình trạng da lâu năm gây viêm nhiễm, mẩn đỏ, khô rát, ngứa rát.

📌 Nguyên nhân & kích hoạt
🔹 Yếu tố di truyền
🔹 Hệ miễn dịch phản ứng quá mức
🔹 Kích hoạt môi trường (bụi, phấn hoa, khói)
🔹Xà phòng, nước giặt, hoặc các sản phẩm chăm sóc da Harsh
🔹 Căng thẳng, nóng và đổ mồ hôi

📌 Triệu chứng thường gặp
🔹 Da khô, tróc vảy, hay nứt nẻ
🔹Ngứa căng đét (thường nặng hơn vào ban đêm)
🔹 Miếng dán đỏ hoặc bị viêm
🔹 Rộp hoặc chảy máu trong trường hợp nghiêm trọng
🔹 Da bị dày do xước lâu năm

📌 Khu vực bị ảnh hưởng phổ biến
🔹 Mặt, cổ, khuỷu tay, đầu gối, tay, chân

📌 Lựa chọn điều trị
🔹 Kem dưỡng ẩm (emollients) giúp da luôn đủ nước
🔹 Corticosteroid chủ đề giảm viêm
🔹 Kháng khuẩn giảm ngứa
🔹 Tránh các kích hoạt được biết đến
🔹 Kem kê đơn (ví dụ: chất ức chế calineurin) cho các trường hợp nặng

📌 Quản lý
🔹 Giữ ẩm tốt cho da
🔹Tránh các chất gây kích ứng và dị ứng
🔹Mặc quần áo mềm mại, thoáng khí
🔹 Chỉ sử dụng xà phòng nhẹ và nước ấm

Chu kỳ kinh nguyệt là một chuỗi sự thay đổi sinh lý phức tạp xảy ra trong hệ sinh sản của phụ nữ, chủ yếu bị ảnh hưởng b...
02/05/2025

Chu kỳ kinh nguyệt là một chuỗi sự thay đổi sinh lý phức tạp xảy ra trong hệ sinh sản của phụ nữ, chủ yếu bị ảnh hưởng bởi biến động nội tiết tố. Nó thường dài khoảng 28 ngày, mặc dù nó có thể thay đổi từ 21 đến 35 ngày ở các cá nhân khác nhau. Chu kỳ có thể được chia thành bốn giai đoạn chính: giai đoạn kinh nguyệt, giai đoạn nang lông, rụng trứng và giai đoạn âm dương.

🍓1. Giai đoạn kinh nguyệt (Ngày 1-5)
- **Tổng quan**: Đây là giai đoạn kinh nguyệt xảy ra, đánh dấu sự khởi đầu của chu kỳ. Lớp lót của tử cung (mối phân) nếu chưa có phân bón nào xảy ra trong chu kỳ trước.
- **Thay đổi nội tiết tố**: Mức độ estrogen và progesterone đang ở mức thấp nhất, kích hoạt việc đổ lớp lót tử cung.
- **Triệu chứng vật lý**: Chảy máu kinh nguyệt, chuột rút và đôi khi là các triệu chứng liên quan như đau đầu, đầy hơi hoặc thay đổi tâm trạng.

🍓2. Giai đoạn nang lông (Ngày 1-13)
- **Tổng quan**: Giai đoạn này chồng chéo với giai đoạn kinh nguyệt và tiếp tục sau khi hết kinh nguyệt. Trọng tâm chính là sự trưởng thành của nang buồng trứng.
- **Thay đổi nội tiết tố**: Tuyến tuyến yên phía sau giải phóng Hormone Kích thích Nang lông (FSH), kích thích sự phát triển của nang lông trong buồng trứng. Khi nang lông trưởng thành, chúng sản sinh estrogen.
- **Thay đổi về thể chất**: Nội tiết bắt đầu dày lên để chuẩn bị cho một thai kỳ tiềm năng. Các triệu chứng có thể bao gồm tăng năng lượng và sự thay đổi của dịch nhầy cổ tử cung (trở nên rõ ràng và đàn hồi hơn).

🍓3. Rụng trứng (Ngày 14)
- **Tổng quan**: Rụng trứng là sự giải phóng một quả trứng trưởng thành (oocyte) từ nang chủ đạo trong buồng trứng.
- **Thay đổi nội tiết tố**: Sự tăng estrogen từ nang lông trưởng thành kích hoạt đỉnh cao trong Hormone Luteinizing (LH), dẫn đến rụng trứng. Đây thường là một khoảng thời gian ngắn khoảng 12-24 giờ nơi có thể xảy ra khái niệm.
- **Thay đổi về thể chất**: Một số phụ nữ gặp phải sự tăng nhẹ trong thân nhiệt cơ địa, đau bụng trứng (mittelschmerz), và thay đổi chất nhầy cổ tử cung.

🍓4. Giai đoạn Luteal (Ngày 15-28)
- **Tổng quan**: Sau khi rụng trứng, nang lông bị vỡ biến thành corpus luteum, điều đó bí mật progesterone và một số estrogen.
- **Thay đổi nội tiết tố**: Mức độ Progesterone tăng lên làm dày thêm lớp lót nội tiết, giúp nó phù hợp để cấy trứng đã được bón phân.
- **Thay đổi về thể chất**: Nếu không xảy ra phân bón, corpus luteum bị thoái hóa, dẫn đến mức độ progesterone giảm. Điều này khiến nội tiết chuẩn bị đổ, dẫn trở lại giai đoạn kinh nguyệt. Các triệu chứng có thể bao gồm hội chứng tiền kinh nguyệt (PMS), tâm trạng chuyển động, đầy hơi và mềm ngực.

🍓Hormone chính liên quan
- **Estrogen**: Liên quan đến việc làm dày lớp lót tử cung và điều tiết chu kỳ kinh nguyệt.
- **Progesterone**: Chuẩn bị lót tử cung để cấy ghép sau rụng trứng và giúp duy trì thai kỳ nếu xảy ra sự thụ thai.
- **Hormone kích thích nang lông (FSH)**: Kích thích sự phát triển của nang buồng trứng.
- **Hóc môn Luteinizing (LH)**: Kích hoạt rụng trứng và sự hình thành của Corpus luteum.

🍓 Kết luận
Chu kỳ kinh nguyệt rất quan trọng đối với sức khỏe sinh sản. Hiểu về giải phẫu của nó giúp nhận biết các quá trình sinh lý bình thường và những bất thường tiềm ẩn, điều này có thể quan trọng trong việc lập kế hoạch gia đình, chẩn đoán tình trạng sức khỏe và quản lý các triệu chứng liên quan đến kinh nguyệt.

01/05/2025

NHÌN SỐ NÀO CỦA ÁP HUYẾT BIẾT CƠ THỂ CÓ THIẾU ĐƯỜNG HAY KHÔNG

I-Theo lý thuyết tây y :

1-Các tế bào trong cơ thể phải được nuôi bằng 4 chất từ thức ăn mỗi ngày vào bao tử được chuyển hóa gồm glucose, protein, lipid, oxy, và theo tây y giải thích sự phối hợp 4 chất này tạo ra năng lượng hay chất bổ giúp duy trì sức khỏe cho cơ thể phát triển và bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật.

Trong cơ thể chúng ta có khoảng 30-40 ngàn tỷ tế bào, tế bào nào cũng có glucose là 1 trong 4 chất không thể thiếu.

2-Tất cả các loại thức ăn vào cơ thể đi qua miệng phải được nhai kỹ xé nhỏ cho thành từng viên tròn nhỏ được tuyến nước bọt thuộc tuyến tụy hòa trộn làm cho chúng ta cảm nhận được vị ngọt của thức ăn, thì tuyến tụy cũng đã biết tổng số lượng thức ăn nuốt vào có bao nhiêu đường để nó sản xuất ra insulin tương đương để khi thức ăn biến thành máu, insulin sẽ cân bằng lượng đường trong máu thích hợp rồi dẫn đường và máu đi nuôi khắp các tế bào trong cơ thể.

3-Tất cả các thực phẩm, tinh bột, trái cây rau củ quả và các loại chất ngọt của các loại đường khi vào cơ thể đều được các enzymes chuyển đổi thành glucose.

4-Nếu trong gan nhờ các bữa ăn nào thừa đường, thì được gan chuyển đổi đường glucose dư thừa thành 100g mỡ, còn thừa nữa thì đổi thành đường dự trữ mang tên glycogen. Đó là lý do tây y nói cơ thể thừa đường thì béo phì, vừa dư mỡ vừa dư thịt nở cơ bắp, mỡ bụng.

5-Trong trường hợp lượng thức ăn nhiều mà thiếu glucose để kết hợp với protein thành máu, thì nó báo cho gan cung cấp đường cho đủ để dẫn đường dẫn máu đi nuôi tế bào. Lúc đó gan lại chuyển đổi glycogen thành glucose cho insulin làm nhiệm vụ dẫn máu và đường đi nuoi tế bào. Lúc đó có 3 trường hợp xẩy ra cho gan :

a-Gan thừa glycogen thì chuyển thành glucose cho insulin dẫn máu và đường đi nuôi tế bào.

b-Gan hết đường dự trữ glycogen thì chuyển mỡ thành đường glucose cho insulin cân bằng.

c-Nếu cơ thể hết mỡ, thì chuyển đường trong các cơ bắp, trong xương, thịt thành đường cho insulin dẫn máu và đường đi nuôi tế bào, lúc đó cơ thể không phải thừa đường béo phì mà cơ thể giảm mất mỡ, rồi giảm mất thịt, teo cơ, bị sụt cân. Khi cơ thịt mất đi thì chất creatin trong cơ bắp bị loại bỏ theo nước tiểu chuyển thành creatinine cao sẽ bị suy thận.

II-Theo lý thuyết đông y.

Thầy thuốc đông y không biết gì về insulin dẫn máu dẫn đường đi nuôi các tế bào trong cơ thể. Chỉ biết sức khỏe con người đều lệ thuộc vào 3 yếu tố tinh-khí-thần, được giải thích bằng con số cụ thể qua máy đo áp huyết của tây y như sau :

KHÍ là tổng số oxy là lực bơm máu tuần hòan của cơ thể mạnh hay yếu so với tiêu chuẩn tuổi, mạnh hơn thì gọi là khí tâm thu thực, sinh ra bệnh cao áp huyết, giống như lốp xe, khí trong lốp xe bơm thừa khí căng quá sẽ nổ lốp, bơm non hơi thì thiếu khí, lốp xe bị xẹp không đi được sẽ bị rách thủng lốp.

Thí dụ lấy số đo áp huyết tiêu chuẩn của người tuổi trung niên 41-59 tuổi

Tâm thu 120-130/tâm trương 70-80mmHg nhịp tim 70-75

a-Nếu tâm thu cao hơn như 140mmHg gọi là khí thực (khí thừa)

b-Nếu tâm thu thấp hơn như 110mmHg gọi là khí hư (khí thiếu)

TINH chỉ lượng thức ăn vào trong bao tử, đo áp huyết tâm trương tay trái có thể thấy được bằng con số áp huyết tâm trương :

a-Nếu tâm trương cao như 90mmHg là lượng thức ăn nhiều

b-Nếu tâm trương thấp như 60mmHg là lượng thức ăn ít không đủ biến thành máu

TINH chỉ lượng máu chứa trong gan sau khi ăn :

Thức ăn có chất bổ tạo máu hay không thì thấy được qua con số tâm trương đo bên tay phải :

a-Nếu tâm trương đo bên tay phải cao 90mmHg là thừa máu và mỡ

b-Nếu tâm trương đo bên tay phải trong tiêu chuẩn 70-80mmHg là đủ máu mỡ không thừa không thiếu

c-Nếu tâm trương đo bên tay phải thấp 65mmHg là gan thiếu máu

SO SÁNH TÂM THU 2 TAY biết cơ thể tăng cân hay mất máu sụt cân.

a-Nếu tâm trương tay phải trước khi ăn 70mmHg, sau khi ăn tăng 75mmHg là trong thức ăn có chất bổ máu.

b-Nếu tâm trương tay phải trước khi ăn 70mmHg, sau khi ăn giảm còn 65mmHg là trong gan mất máu, thì tâm trương bên trái cao là lượng thức ăn nhiều như ăn bún nhiều mà không có chất bổ máu.

c-Nếu tâm trương tay phải trước khi ăn 80mmHg, sau khi ăn, hay nhịn ăn, tâm trương giảm còn 70mmHg là mất máu và mỡ, giảm cân.

d-Sau khi nhịn ăn, tâm trương tay phải giảm dần còn 60mmHg, làm sụt cân, giảm dần xuống 55, hay 50mmHg là người gầy, thiếu máu trầm trọng, gây ra nhiều bệnh nan y và ung thư.

e-Sau khi nhịn ăn, đường huyết thấp, thức ăn vào không đủ đường chuyển hóa thành máu thì biến thành mỡ trong gan trong bụng, thí dụ như :

áp huyết tay trái 110/75/63, tay phải 111/68/63, đường huyết 5,4 mmol/l, nhiệt độ tay chân thấp 35 độ C

Áp huyết 2 tay gần bằng nhau là không chuyển hóa, đường thấp và nhịp tim thấp thì bao tử lạnh và không co bóp, tốc độ bơm máu chậm, máu đặc, thức ăn không biến thành máu mà thành mỡ, sẽ bị thiếu máu cơ tim cục bộ và bị mỡ máu cao, xơ vữa động mạch.

THẦN là nhịp tim.

Theo đông y, cơ thể có đủ máu gọi là âm, nhìn vào tâm trương tay phải, có âm mới làm tăng khí gọi là dương, nhìn vào số tâm thu trong tiêu chuẩn, đông y gọi là âm dương hòa hợp thì con người khỏe mạnh da thịt tươi nhuận sắc mặt hồng hào, cơ thể ấm áp không nóng không lạnh thì có nhịp tim trong tiêu chuẩn ở tuổi trung niên là 70-75, ở tuổi lão niên trên 60 tuổi có nhịp tin 70-80

Như vậy ai ở tuổi trung niên có áp huyết tiêu chuẩn Tâm thu 120-130/tâm trương 70-80mmHg nhịp tim 70-75 là người có đủ tinh-khí-thần hòa hợp.

Kết luận :

Những ai dù bất cứ hạn tuổi nào, đều có áp huyết trong tiêu chuẩn tuổi gọi là tinh-khí-thần hòa hợp thì, không cần ăn thêm đường, dù đường huyết bao nhiêu cũng không có bệnh tiểu đường.

III-NGUYÊN NHÂN TẠI SAO BỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Như lý thuyết của tây y, trong thức ăn khi vào cơ thể đều được chuyển hóa thành đường glucose, tạo ra năng lượng ATP, tạo ra máu, ra mỡ, tạo ra sức khỏe, ngày ăn 3 bữa thực phẩm, nuôi tế bào mỗi ngày 3 lần, sau 4 tiếng, thức ăn được tiêu hóa hết, thì tế bào lại thiếu glucose, protein. lipid, oxy, thì làm gì còn dư thừa glucose trong thức ăn. Do đó trước kia mọi người không hề biết đến bệnh tiểu đường.

Từ khi khoa học phát minh ra máy thử đường, thì đo đường trong cơm gạo, canh rau củ quả, chất đạm, chất béo bình thường như mọi ngày, không cần biết đường cao bao nhiêu, vẫn thấy khỏe.

Từ khi có lý thuyết insulin cân bằng đường, thì tây y mới tìm ra tiêu chuẩn đường khi đói, khi no khác nhau mà con người vẫn khỏe mạnh không bênh tật thì đều có đường huyết khi đói 140mg/dl hay 8mmol/l, khi no sau khi ăn 30 phút đường huyết phải cao 200mg/dl hay 11mmol/l, đây là thời kỳ khoa học đang phát triển, mới chứng minh được lý thuyết tế bào tại sao cần phải nhiều đường để làm rõ lý thuyết tế bào cần 4 chất quan trọng là glucose, protein, lipid, oxy, cần nhiều đường mới đủ nuôi hơn 30 ngàn tỷ tế bào.

Nhưng khi đạo đức ngành y xuống dốc do lòng tham lợi nhuận, họ có kế hoạch tinh vi để lừa gạt chúng ta lọt bẫy tiểu đường từng giai đoạn :

a-Họ áp đặt tiêu chuẩn đường huyết xuống thấp từ 3.9-5.9mmol/l hay 70-100mg/dl, thay vì tiêu chuẩn cũ của Y Tế Thế Giới năn 1979, khi đói 140mg/dl, khi no 200mg/dl, và xét nghiệm máu 3 tháng HbA1C 8%

b-Họ hù dọa cho rằng ăn nhiều cơm gạo tinh bột thì đường mới cao, người sẽ béo phì, đạo đức giả sợ những người béo phì sẽ có nhiều bệnh, nên khuyên ăn ít tinh bột, trong khi chính tinh bột đường mới là quan trọng khi ăn nhiều cơm gạo làm chắc da chắc thịt khỏe mạnh, khác với ăn nhiều bánh kẹo làm tăng đường mà không sinh ra da thịt khí huyết mới bị bệnh, và cứ ăn nhiều cơm là cho rằng bệnh đường huyết cao, chính vì kiêng ăn tinh bột, cơm gạo người gầy ốm dần sức khỏe yếu kém sinh ra nhiều bệnh tật, họ lại tuyên truyền do ăn nhiều đường phải uống thuốc hạ đường.

c-Họ đặt ra cách thử xét nghiệm HbA1C cho tiêu chuẩn xuống thấp còn 5%

Họ hại chúng ta lần thứ nhất kiêng ăn tinh bột, khiến sức khỏe chúng ta giảm dần, lần thứ hai, áp đặt tiêu chuẩn đường huyết thấp tạo ra bệnh tiểu đường.

d-Họ hại chúng ta lần thứ ba bắt dùng thuốc hạ đường huyết.

e-Lần thứ tư hù dọa cơ thể kháng insulin.

g-Lần thứ năm lại lấy tiêu chuẩn thử HbA1C, và kết quả thử đường trên ngón tay, thấy đường cao, do kháng insulin là đường trong cơ thể bị mất đi làm cơ thể mất thịt sụt cân là thiếu đường trầm trọng, chữa bằng cách càng tiêm insulin thì đường huyết tăng cao HI mà bệnh nhân còn da còn thịt thì chưa chết, cho đến khi gầy trơ xương cơ thể không còn đường đối kháng tim ngừng đập, phổi ngưng thở, thì họ chối bỏ trách nhiệm bằng cách kết luận bệnh nhân chết vì đường huyết cao, chứ không phải chết vì chữa sai, thay vì phải tiêm đường glucoza, lại là cách hù dọa thành công, ai có đường cao trước sau cũng bị chết về bệnh tiểu đường kháng insulin, nên mọi người sợ bị bệnh tiểu đường, càng tìm cách ăn ít tinh bột, kiêng ăn ngọt bánh kẹo trái cây, rủ nhau ăn rau củ quả, thiếu đường cho tim phổi hoạt động chết âm thầm trong lúc ngủ đêm tại nhà nhiều hơn những người đang chữa bệnh tiểu đường.

Qua gần 100 năm ngành tây y phát triển về kinh doanh thu lợi nhuận nhiều hơn là bảo vệ sức khỏe cho con người, nếu thống kê nhân số, thì trước năm 1979 nói về số người chết ít hơn, kể cả các người bệnh về sức khỏe, nhưng ngày nay mỗi năm ngành y thống kê số người chết về bệnh cao áp huyết, người chết về bệnh tiểu đường, về ung thư càng ngày càng tăng, mặc dù đã dùng thuốc hạ đường hạ áp huyết…mà sao kết quả vẫn nghịch lý. Như vậy chúng ta đã biết nguyên nhân tại sao rồi.

1-Nguyên nhân thứ nhất : vì kiêng ăn tinh bột đường

Không đủ đường trong tinh bột đường kết hợp với protein để biến thành máu

2-Khuyến khích ăn nhiều rau của quả là đường không có calo

Nghe có vẻ hợp lý, nhưng trong rau củ quả không có protein làm sao kết hợp glucose với protein thành máu

3-Cơ thể thiếu đường, sẽ bị mở máu cao

Do kiêng tinh bột đường, kiêng protein, thì thức ăn không biến thành máu mà biến thành mỡ, nên khi thử máu, những ai có đường huyết nằm trong tiêu chuẩn thấp, như 4-5.0mmol/l thì dều có kết quả mỡ máu cao hơn tiêu chuẩn, ngược lại xét nghiệm máu không bị mỡ máu cao, thì có kết quả đường huyết cao hơn tiêu chuẩn xét nghiệm là tốt

4-Khuyến khích dùng thuốc hạ đường metformin, chỉ hạ đường thì mỡ máu vẫn cao, nhưng thiếu máu thiếu hồng cầu

Hậu quả :

4 chất quan trọng không đủ tiêu chuẩn để nuôi tế bào, nên gây ra bệnh thiếu máu, thiếu đường là thiếu nhiệt lượng, đường trong rau củ quả là đường làm giảm nhịp tim, người lạnh, một là tăng cân thừa mỡ béo phì, nhưng thiếu máu, hai là kháng insulin người gầy, suy tim gan nhiễm mỡ, suy thận, suy hô hấp, khi gan nhiễm toan thì pH acid gây ung thư do cơ thể suy nhược, suy dinh dưỡng thiếu đường, thiếu máu, thiếu khí, thiếu nhiệt lượng, bệnh tim mạch áp huyết cao hay thấp, mất trí nhớ, mờ mắt hay mù mắt, hoại tử.. là những tên bệnh do hậu quả thiếu đường.

IV-TRƯỜNG HỢP NÀO CẦN UỐNG ĐƯỜNG VÀ KHÔNG UỐNG ĐƯỜNG

1-Không cần uống đường, và không cần uống thuốc hạ đường

Ăn uống đầy đủ chất, theo dõi áp huyết trước khi ăn, sau khi ăn, đo áp huyết 2 tay, đều nằm trong tiêu chuẩn tuổi đói, no, nhịp tim trong tiêu chuẩn 70-80, nhiệt độ đo trên trán, đầu ngón tay út trái, đầu ngón chân út trái trong tiêu chuẩn 36-36.5 độ C, cân nặng trong tiêu chuẩn tuổi như chiều cao 1.60m thì cân nặng 60kg gia giảm nặng hơn hay nhẹ hơn 1kg, thì dù đường đo bao nhiêu cũng bình thường vì sau 4 tiếng đường xuống thấp, không cần uống thêm đường hay không cần lo bệnh tiểu đường.

2-Phân biệt đường đang thấp tự nhiên cao, có 2 trường hợp khác nhau :

a-Sau khi ăn 4 tiếng, bụng rỗng, đường huyết thấp, tự nhiên tăng vọt là cơ thể thiếu đường dương nuôi tim phổi, nên cơ thể phải tạm rút đường dự trữ, thì mình phải ăn thêm bánh mì chấm sữa đặc Ông Thọ để bù lại đường cơ thể bị mất, gọi nôm na là đường trả nợ để khỏi bị sụt cân.

b-Sau khi ăn đo đường thấp là đường trong thức ăn chưa chuyển hóa xuống ruột, vì thức ăn có nhiều chất rắn, chuyển hóa chậm, sau khi thức ăn chuyển hóa hết trong bao tử xuống ruột thì đường huyết mới tăng là tự nhiên, miễn sao áp huyết, nhịp tim, nhiệt độ trong tiêu chuẩn thì đường cao hay thấp không quan tâm

3-Cần uống đường trong các trường hợp sau :

a-Áp huyết thấp cả 3 số, so với tiêu chuẩn tuổi.

Nguyên nhân kiêng ăn, ăn ít, kiêng đường là thiếu glucose và thiếu tinh bột đường, thiếu chất béo, có nhịp tim thấp , nhiệt độ tay chân thấp

b-Áp huyết tâm thu, tâm trương cao mà nhịp tim thấp, có nghĩa không đủ đường cho bao tử co bóp thức ăn thì thức ăn trong bao tử lên men tăng ga ợ hơi là tăng áp huyết, nguyên nhân nhịp tim thấp, nhiệt độ chân tay thấp

c-Áp huyết tâm thu thấp, tâm trương tay trái cao, nhịp tim thấp, đường huyết thấp. Uống thêm đường rồi tập bài Thụt Dầu tối đa 20 lần để cơ thể hấp thụ đường chuyển hóa hết thức ăn trong bao tử sẽ làm tăng tâm thu, giảm tâm trương và tăng nhịp tim, không được tập nhiều lại làm tụt mất đường làm rối loạn áp huyết lọt ra ngoài tiêu chuẩn.

d-Áp huyết tâm thu cao, tâm trương cao, đường huyết cao 300-400mg/dl, nhiệt độ đầu ngón chân út thấp dưới 36 độ hay máy đo chỉ low, là đường âm, không chuyển hóa được thức ăn trong bao tử, cần uống 20 thìa đường cát vàng, nằm úp bao tử lên chai nước nóng 40 độ C trong 30 phút, thì áp huyết xuống nhịp tim tăng.

e-Lấy bàn tay sờ trán tay lạnh hơn trán, hay chân tay lạnh, uống 10 thìa đường, nằm úp bao tử lên chai nước nóng 30 phút rồi tập bài Thụt Dầu, nếu áp huyết thấp, hay bài Đi Con Vịt, nếu áp huyết cao, nhưng chân tay sẽ tăng nhiệt, ấm người.

g-Đêm ngủ không ngon trước khi đi ngủ uống 10 thìa đường, hay uống 3 thìa canh sữa đặc Ông Thọ pha 6 thìa cà phê đường cát vàng, bao tử sẽ chuyển hóa sữa protein và đường thành máu làm tăng số tâm trương tay phải và ngủ ngon.

h-Nếu hay đi tiểu đêm, trước khi đi ngủ uống 10 thìa đường thì hết đi tiểu đêm

i-Đêm đổ mồ hôi lạnh cũng uống 10 thìa đường làm tăng dương khóa lỗ chân lông người ấm nóng hết ra mồ hôi. Đường thấp, người lạnh làm phổi ho do lạnh

k-Những ai bị chảy mồ hôi tay, do thiếu đường uống 10 thìa cà phê đường cát vàng và nhúng bàn tay vào thau nước pha 5 thìa đường trong 15-30 phút rồi lau khô bàn tay, sẽ không thấy mồ hôi tay.

l-Khi đứng lên ngồi xuống bị chóng mặt do thiếu đường, uống 10 thìa cà phê đường tập lại bài đứng lên ngồi xuống hết chóng mặt.

m-Ai hay ngáp là bao tử hàn lạnh do thiếu đường, hay buồn ngủ gục ban ngày hay lái xe bị buồn ngủ do thiếu đường uống ngay 10 thìa đường sẽ tỉnh ngủ.

n-Ai say tầu xe, hay buồn nôn, chóng mặt uống 10 thìa đường

o-Ai nằm rồi ngồi dậy bị chóng mặt do thiếu máu, ăn sữa đặc Ông Thọ 4 thìa canh pha 8 thìa cà phê đường cát vàng sẽ bổ máu tăng tâm trương tay phải

p-Thí dụ : Áp huyết 2 tay gần bằng nhau là không chuyển hóa, đường thấp và nhịp tim thấp thì bao tử lạnh và không co bóp, tốc độ bơm máu chậm, máu đặc, thức ăn không biến thành máu mà thành mỡ, sẽ bị thiếu máu cơ tim cục bộ và bị mỡ máu cao, xơ vữa động mạch.

Như người này phải uống nhiều đường rồi tập bài Thụt Dầu cho tăng áp huyết, tiêu mỡ, tăng máu, tăng tốc độ bơm máu sẽ tan mỡ bụng, không bị xơ vữa động mạch, không bị thiếu máu cơ tim cục bộ.

q-Mọi người thắc mắc chưa phân biệt được đường dương, đường âm.

Đường âm làm hạ nhiệt độ, làm hạ nhịp tim, đường huyết cao -300mg/dl mà nhiệt độ người lạnh thấp dưới 36 độ C, làm hạ nhịp tim, là cơ thể đang thiếu đường dương mà thừa đường âm, bị tây y chữa lầm tiêm insulin thì bị kháng insulin, thay vì phải tiêm đường glucoza

Đường dương làm tăng nhịp tim, tăng nhiệt độ và làm giảm đường âm. Thí dụ uống 10 thìa đường cát vàng làm tăng đường dương lên +100mg/dl, thì sau khi uống đường từ -300mg/dl xuống còn -200mg/dl mà nhịp tim vẫn thấp, nhiệt độ vẫn chưa lên 36 độ C, nếu thiếu máu nhịp tim cao 100, thì đường dương chuyển hóa thức ăn thành máu thì nhịp tim xuống thấp còn 90, nhưng kết quả cơ thể vẫn còn là đường huyết âm. Nếu là ung thư thì pH nước bọt là acid, và đường cát trắng là âm, có pH acid, nên tây y cho rằng đường gây ra ung thư là đường cát trắng và đường của rau củ quả không có calo..

Doducngoc

Address

Ho Chi Minh City

Telephone

0909255556

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nguyễn Bích Ngân posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Nguyễn Bích Ngân:

Shortcuts

Share