TÔM GIỐNG NAM MỸ

TÔM GIỐNG NAM MỸ CÙNG BẠN ĐI ĐẾN THÀNH CÔNG

13/03/2017

01 Tháng 5 2013

Hoa Kỳ
Arizona-TS. Lightner Finds Nguyên nhân của EMS

Vào ngày 01 tháng 5 năm 2013, các Nuôi trồng thủy sản Liên minh toàn cầu (GAA) báo cáo rằng tiến sĩ Donald Lightner, các nhà nghiên cứu bệnh tôm nổi tiếng tại Đại học Arizona, đã tìm ra nguyên nhân của hội chứng tử vong sớm (EMS), một căn bệnh mà là chi phí nuôi tôm ngành công nghiệp hàng tỷ đô la một năm.

Đội Lightner đã tìm thấy rằng EMS được gây ra bởi một chủng duy nhất của một loại vi khuẩn tương đối phổ biến, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, đã bị nhiễm bởi một loại virus được biết đến như một thể thực khuẩn, gây ra nó để phát hành một loại độc tố mạnh. Các loại vi khuẩn được truyền miệng, khuẩn đường tiêu hóa tôm và sau đó tạo ra một chất độc gây ra sự phá hủy mô và rối loạn chức năng của gan tụy, cơ quan tiêu hóa của tôm.

Nghiên cứu tiếp tục phát triển các xét nghiệm chẩn đoán để phát hiện nhanh chóng của EMS mà sẽ cho phép cải thiện quản lý của trại giống và ao. Nó cũng sẽ cho phép đánh giá tốt hơn về các rủi ro liên quan đến nhập khẩu tôm đông lạnh hoặc các sản phẩm khác từ các nước bị ảnh hưởng bởi EMS.

Một số nước đã thực hiện chính sách hạn chế nhập khẩu tôm đông lạnh hoặc các sản phẩm khác từ các nước EMS bị ảnh hưởng. Lightner cho biết tôm đông lạnh có thể gây ra rủi ro thấp cho ô nhiễm của tôm tự nhiên và môi trường vì tôm EMS nhiễm thường rất nhỏ và không nhập thương mại quốc tế. Ngoài ra, có nhiều nỗ lực của mình để truyền bệnh sử dụng mô đông lạnh đều không thành công.

Trong một nỗ lực để học hỏi từ dịch bệnh trong quá khứ và cải thiện chính sách trong tương lai, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm, một tổ chức giáo dục và đào tạo từ thiện được thành lập bởi Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu, bắt đầu một nghiên cứu trường hợp về EMS tại Việt Nam trong tháng Bảy năm 2012. Mục đích của nó là để điều tra việc giới thiệu, truyền tải và các tác động của EMS, và đề xuất biện pháp quản lý đối với các lĩnh vực công cộng và tư nhân.
Sưu tầm

TÔM GIỐNG NAM MỸ Website:http://tomgiongnammy.comCÁC BƯỚC HẠN CHẾ NGUY CƠ BỆNH TRÊN TÔM .   🚫 Độ pH của nước không nên q...
06/03/2017

TÔM GIỐNG NAM MỸ
Website:http://tomgiongnammy.com
CÁC BƯỚC HẠN CHẾ NGUY CƠ BỆNH TRÊN TÔM .
🚫 Độ pH của nước không nên quá thấp trong tháng đầu tiên. Tháng đầu tiên thả giống nên hạn chế sử dụng quá nhiều vi khuẩn probiotic hoặc men vi sinh phân hủy các chất hữu cơ ở giai đoạn chuẩn bị nước và tháng đầu thả nuôi để giữ cho môi trường sạch trong giai đoạn này. Lưu ý tránh trường hợp sử dụng men vi sinh để làm giảm pH nước để ngăn chặn vi khuẩn Vibrio hoặc để làm giảm độc tính của amoniac. Độ pH của nước thấp hơn 7,5 vào buổi sáng có thể ảnh hưởng đến tôm trong tháng đầu thả giống .Nếu trường hợp có mưa lớn trong nhiều ngày, pH của nước sẽ giảm xuống. Kiềm trong nước cũng sẽ giảm xuống,( vì nước mưa có thực tế không có độ kiềm và độ pH của nước mưa nước mưa là 6,8-6,9) . Lượng mưa trong một thời gian dài sẻ làm pH của nước và độ kiềm nước giảm xuống ( điều này mọi người đều biết ). Dẫn đến tôm bị chết và có những biểu hiện như tôm co teo lại và mô cơ trên con tôm hơi trắng. Khi tôm giống được thả vào ao nuôi, pH nước nên được khoảng 8,0 ± 0,2 , bởi vì đây là bình thường so với pH nước biển tại các trại giống. Khi đó tôm giống có một thời gian tự điều chỉnh độ pH cơ thể để phù hợp . Độ kiềm của nước phải từ 100 mg / l trở lên đến 180 ở thời kỳ đầu . Trong tháng đầu tiên, người nuôi tôm cần thêm vôi vào nước để điều chỉnh độ pH mỗi khi trời mưa đây là điều rất quan trọng cần lưu ý .
🚫 Cách cho ăn ở thời gian đầu thả giống .
Thường bà con nuôi tôm có đặc điểm chung là thời gian đầu thả nuôi đã cho ăn quá nhiều (( so sánh với trại giống 1 triệu post một ngày ăn 8 cự 4 cự actemia = 4×(60÷80)g và 4 cự tổng hợp= 4×( ~ 60g) . tổng cộng 1 ngày tại trai giống 1 triệu post 10 đên 12 ăn khoảng từ 500g thức ăn vì vậy nên lưu ý điểm này .)). Nhiều người nuôi thường nghĩ cho ăn nhiều để giữ đầu con và phát triển nhanh và kính thước đồng đều , đây là một lý do mạo hiểm nếu không không sử dụng ao lót bạt và xifong hằng ngày . Mặc dù thời gian đầu cho ăn nhiều sẻ nhìn thấy tôm đều phát triển rất nhanh và sau đó chết một cách nhanh lại đỗ lỗi cho con giống . Bà con phải kiểm soát với sự phát triển tốc độ bình thường, và khỏe mạnh và về đích an toàn . Phải kiểm soát lượng thức ăn để đáy ao luôn sạch sẻ nếu ao bạt đáy ao tuyệt đối không được có màng nhớt , lên nhớt trơn dưới đáy khi lội xuống ao đáy ao phải luôn sạch. Vì như vậy không có cơ hội để vi khuẩn Vibrio có thể làm cho tôm bị bệnh. Nếu không có thức ăn dư thừa, thì chất lượng nước sẽ tốt. Tôm đang phát triển với một tốc độ bình thường sẽ không phải lột quá thường xuyên sẻ thiếu hụt lượng khoáng bổ sung vì vậy sẻ không có tình trạng tôm chết bị thân mềm sau khi lột xác.
🚫 Môi trường nước là điều rất quan trọng mà bài trước tôi đã đăng có thể tham khảo lại TÔM GIỐNG NAM MỸ . ( Bà con nên lưu ý không phải là lắp bao nhiêu dàn quạt bao nhiêu típ mà phải kiểm tra lượng oxy khuyết tán phải đạt tối thiểu từ 5mg / lít trong ngày và điều chỉnh thích hợp để gom chất thải hữu cơ có trong ao nuôi về vùng rốn để xi fong hoặc bơn hút ra ngoài Cẩn thận điều chỉnh chất lượng oxy đầy đủ từ 5mg/l tôm sẻ phát triển khỏe mạnh và không nhiễm bệnh ( điều này rất quan trọng vì vậy cty giống Nam Mỹ cho tôm bố mẹ đẻ tự nhiên và quy trình nuôi giống 2 pha để tăng sức đề kháng tự nhiên cho sự phát triển của con tôm từ nguồn tôm bố mẹ được cung cấp bởi thương hiệu SIS Hawaii nhập về từng tháng để duy trì nguồn naupllius mới cho quy trình sản xuất tại cty Nam Mỹ.
🚫 Có thể sử dụng sản phẩm quy định để diệt khuẩn theo chu kỳ 10 ngày một lần Sử dụng chất diệt khuẩn được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản do Sở Thủy sản quy định . Luôn duy trì màu nước có độ trong chuẩn ( như bài trước tôi đã đăng ) và sử dụng chế phẩm sinh học đúng quy cách để đảm bảo phát triển sinh khối xử lý đáy ao ( lưu ý lượng oxy hòa tan )
🔘 Cần bổ sung thêm các khoáng chất và muối biển. Thêm khoáng hoặc muối biển trước khi tôm lột xác hay trong khi tôm đang lột xác để đảm bảo giúp tôm có đủ khoáng chất trong nước cho tôm phát triển vỏ mới.
🔘 Vôi là nguyên liệu cần thiêta để điều chỉnh pH nước. Bất kỳ loại vôi thủy sản hay calcium hydroxide tùy theo môi trường nước ở mỗi vùng miền có môi trường nước khác nhau để sử dụng hợp lý và kinh nghiệm của người nuôi . Việc thêm vôi là để ổn định độ pH và độ kiềm của nước nhất là khi có mưa . Điều này sẽ giúp bảo vệ chống lại nhiễm độc từ khí hydrogen sulfide hình thành ở giữa ao. Hydrogen sulfide có thể trở nên độc tính cao khi độ pH giảm xuống mức thấp, đặc biệt là sau khi mưa lớn.
🔺 Khi thấy có dấu hiệu tôm bị hao rớt nhá hay tấp mé . Nếu tôm có dấu hiệu chết trong khoảng một tháng sau thả vào ao nuôi , mô cơ của tôm có biểu hiện đục và màu trắng, và gan tụy của họ xuất hiện nhạt màu và nhỏ hơn so với tôm bình thường, bà con phải thực hiện kiểm soát theo các bước :
1. Ngừng cho ăn ngay , không phải lo tôm khỏe ăn tôm bệnh sẻ bị lây nhiễm . Lý do để dừng cho ăn là tôm sẽ không sẵn sàng để lột xác. Các cơ chế tự nhiên sẽ làm cho chúng phải hoãn lại lột xác khi nguồn thức ăn không dồi dào. Nếu tôm không lột xác, thì lượng tôm chết sẻ giảm . Khi giảm lượng hoặc cắt cự hẳn tôm chết sẻ giảm và dừng lại sau 3-5 ngày.
2. Bà con nên sử dụng đánh thêm vôi vào nước để độ pH là lên đến 8.0 vào buổi sáng sớm nâng cao độ kiềm để quá trình lột xác chậm lại sẽ làm tôm chậm lột xác và do đó làm giảm hao hụt . Nếu ao nuôi có độ mặn thấp hoặc mật độ thả tôm dày , bà con cần bổ sung thêm muối biển hoặc khoáng vào để giúp tôm phục hồi và trở nên mạnh hơn nhanh hơn.
🔺. Khi ngừng cho ăn nên tắt hết hệ thống sục khí để nước lắng tụ đáy ao sẻ được cải thiện hơn và khi có dấu hiệu ổn định nên mở quạt sục khí hết công suất . Khi theo dõi có dấu hiệu ổn định và không thấy tôm chết và đạt nhá thấy tôm vào nhá ăn bình thường không có trường hợp tôm chết nhiều và tôm vào nhá ăn bình thường, khi đó không có biểu hiện , nhìn thấy màu trắng trên tôm nữa, có thể mất 7-10 ngày; sau đó có thể bắt đầu cho ăn trở lại từ 20% lúc đầu và tăng chậm không nên nóng vôi cho đến khi tôm khỏe mạnh phát triển bình thường và căn nhá lại cho ăn đến khi thu hoạch , tỷ lệ hao hụt có thể khoảng 20% . Nếu người bà con bắt đầu cho ăn quá nhiều và quá sớm, sẻ xảy ra lần thứ hai và lúc này tình hình sẻ trở nên khó khăn và tỷ lệ hao hụt sẻ rất lớn và có thể xả bỏ vì tôm sẻ chêta nhanh hơn trong lần thứ 2 . Nếu có một sự xuất hiện thứ hai của triệu chứng tốt nhất bà con nên thu hoạch vì số lượng lần thứ hai sẻ không thể kiểm soát được ,
💮 Bài viết được thu thập từ các nguồn thông tin để cung cấp cho bà con tham khảo có cách xử lý và chuẩn bị tốt trong vụ nuôi của mình tốt hơn nếu có gì thiếu sót xin bổ sung để chúng ta có một cách nhìn tổng quan hơn mọi người nhé ! . Chúc bà con có vụ mùa bội thu được mùa được giá .

11/02/2017

CÙNG BẠN ĐI ĐẾN THÀNH CÔNG

CÁC YẾU TỐ VẬT LÝ HÓA HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÔM.Một số lưu ý để cùng đi đến thành công trong vụ nuôi năm 2...
07/02/2017

CÁC YẾU TỐ VẬT LÝ HÓA HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÔM.
Một số lưu ý để cùng đi đến thành công trong vụ nuôi năm 2017 .
Để nuôi tôm thẻ chân trắng có thể phát triển tối ưu, nó cần một môi trường sống mà có thể cung cấp đầy đủ các yếu tố vật lý , hóa học và sinh học đầy đủ và tối ưu nhất . Điều kiện môi trường vật lý bao gồm cả nhiệt độ và độ mặn. Trong khi các điều kiện hóa học là bao gồm pH, oxy hòa tan (DO), nitrat, orthophosphoric, và sự hiện diện của sinh vật phù du làm thức ăn tự nhiên .Cần lưu ý rằng các điều kiện môi trường có thể ức chế sự tăng trưởng của tôm, tôm có thể gây chết người, chẳng hạn như sự xuất hiện của các loại khí độc hại và vi sinh vật gây bệnh.
Nhiệt độ là một yếu tố kiểm soát tốc độ của các phản ứng sinh hóa. Điều này là bởi vì nhiệt độ có thể xác định tỷ lệ trao đổi chất của tôm và các sinh vật thủy sinh khác. Nhiệt độ thấp sẽ dẫn đến một hệ thống trao đổi chất thấp hơn ngược lại với nhiệt độ cao sẽ thúc đẩy sự trao đổi chất tốt nhất để nuôi tôm thẻ ở điều kiện tốt, nước ao khoảng nhiệt độ được đề xuất là từ 28 - 32o C. độ trong của nước từ 30-60 cm. độ trong kết hợp với màu sắc của nước gây ra với số lượng sinh vật phù du trong đó. Nếu mật độ tảo có trong môi trường có độ trong 35 cm, khi màu nước xanh đậm và độ trong 20 cm là đạt dưới hạn chuẩn . Sự ảnh hưởng của pH sẻ có hại cho tôm thường được gây ra bởi cơ chế của việc tăng nồng độ các chất độc hại , chẳng hạn như tăng amoniac (NH3) có độ pH trên 7. Trong khi đó, ở các vùng nước với độ pH thấp sẽ gây ra một sự gia tăng trong phần hidro sunfua (H2S) và độc tính của nitrite, cũng như tôm rối loạn sinh lý. Về lâu dài, điều kiện pH thấp sẽ dẫn đến sự ra đời của natri vào môi trường nước. Về nuôi tôm, độ pH sẽ thay đổi trong ngày không vượt quá 0.5 và luôn kiểm soát thay đổi từ ngày này sang ngày khác và độ pH có xu hướng giảm trong suốt vụ nuôi tôm, bởi vì sự tích tụ của các axit hữu cơ và quá trình nitrat hóa của amoniac vì vậy việc kiểm soát môi trường là yếu tố quan trọng đến sự phát triển của quá trình nuôi của bà con . và độ pH tối ưu từ 7,5-8,3 là thuận lợi cho sự tăng trưởng tôm trong quá trình bà con nuôi .
Nồng độ oxy hòa tan (DO) trong nước ao có ảnh hưởng đến sinh lý của tôm. Nồng độ oxy là các yếu tố môi trường quan trọng nhất trong các ao nuôi tôm. sự thiếu hụt và giảm sút DO trong nước, sẽ dẫn đến strees và căng thẳng cho tôm và dễ bị bệnh. Tôm tăng trưởng sẽ chậm vì tỷ lệ với sự tiêu thụ thức ăn giảm với giảm nồng độ oxy hòa tan. Trong các ao nồng độ oxy 1,0 mg/L sẻ làm ăn chậm và bỏ ăn. Nồng độ oxy hòa tan là 1,0 -1,4 mg /L sẽ làm cho tôm không phát triển và mắc bệnh , với mức DO dưới 5mg / L sẽ làm cho tôm đã hạn chế tăng trưởng do đó mức oxy thích hợp cho tôm thẻ phát triển phải cao hơn 5mg /L . Kiểm soát Nitrate và orthophosphoric là một chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng của thực vật phù du. Cả hai loại chất dinh dưỡng có thể được sử dụng trực tiếp của thực vật phù du. Các hợp chất nitơ là chất thải của quá trình tiêu hóa của protein có thể tích lũy đến mức nguy hiểm trong ao. Tôm sử dụng thành phần nitrogen của protein đã được tiêu hóa (nhóm amin NH2) để tạo thành các protein chính nó, nhưng sự trao đổi chất của nó là không thể chuyển đổi nitơ thành năng lượng. Một mức amoniac 0,02-0,05 mg/L đã có thể ức chế sự tăng trưởng của động vật thủy sản nói chung, trong khi mức 0,45 mg / l có thể ức chế sự tăng trưởng của tôm 50%. Sau đó trong mức độ 1,29 mg/L đã dẫn đến tôm chết .
Để vụ mùa năm 2017 thắng lợi bà con nên lưu ý một số vấn đề tôi nêu ra trên để đạt nhiều thắng lợi . Chúc bà con thành công . Mọi sự trao đổi tư vấn xin vui lòng liên hệ phòng kỷ thuật Cty TNHH SX TÔM GIỐNG THỦY SẢN NAM MỸ .

29/01/2017

Khởi hành đầu năm Thượng Lộ Bình An !

28/01/2017

GIẢI PHÁP CHỐNG VIRUT BỆNH ĐỐM TRẮNG

Theo báo cáo của các nhà nghiên cứu Mexico đăng ngày 7/2/2016 trên trang thông tin của Liên minh Nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA), họ đã thí nghiệm thành công việc sử dụng mạch kép RNA để chống lại virus gây đốm trắng trên tôm. Đây là một tín hiệu khả quan cho ngành tôm để tránh được những thiệt hại do bệnh này gây ra.
Thiết kế thí nghiệm
Các nhà khoa học đã thành lập một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của sợi kép (ds)RNA ở gen vô định hình là orf89 và wsv191 so với hai gen định hình vp26 và vp28 của virus đốm trắng để chống lại WSSV trong cùng điều kiện thí nghiệm.
Các nhà khoa học tiến hành lấy tôm thẻ chân trắng giống từ một trại giống ở Sonora, Mexico đã được xét nghiệm PCR cho kết quả âm tính với WSSV. Các con tôm này được nuôi trong môi trường thí nghiệm với độ mặn 25‰, nhiệt độ 27 ± 20C và được sục khí liên tục. Định kỳ thay 50% nước với 3 ngày/lần để duy trì chất lượng nước. Sau đó, những con tôm này được tiến hành gây nhiễm từ tôm bị WSSV ngoài tự nhiên từ Sinaloa, Mexico với nồng độ được pha loãng từ 102 - 107. Tiến hành tiêm để gây nhiễm WSSV cho tôm và nuôi trong môi trường thí nghiệm ở bể có thể tích 12 lít. Sau đó, thực hiện theo dõi các dấu hiệu lâm sàng và tỷ lệ chết của tôm nhiễm WSSV trong 10 ngày với tần suất kiểm tra là 2 lần/ngày. Nồng độ nhiễm bệnh và khả năng gây chết được xác định tương ứng là 105.6 SID50/ml và 105.6 LD-50/ml. Ở nồng độ SID50 tỷ lệ tôm bị nhiễm bệnh là 50%. LD-50 là liều duy nhất gây chết đến 50% nhóm tôm thí nghiệm.
RNAi (RNA can thiệp) chống lại WSSV gồm bốn gen vp26, vp28, wsv191 và orf89. được sản xuất như là dsRNA, sử dụng bộ phiên mã đã được quy định.

Phương pháp điều trị
Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm trên các nhóm khác nhau, mỗi nhóm gồm 10 con TTCT đã gây nhiễm WSSV được theo dõi trong 24h và được nuôi trong bể có độ mặn 25‰, nhiệt độ 25 ± 20C, sục khí liên tục. Mỗi nhóm được tiêm lần lượt vào cơ thể với một trong những dsRNA với liều 4 µg.
Một nhóm 10 con TTCT được tiêm với liều lượng 40 µl dsRNA của vi khuẩn lacZ và được sử dụng làm nhóm đối chứng. Một nhóm khác gồm 10 con tôm được điều trị bằng 40 µl hệ đệm phosphat và sử dụng làm đối chứng chuẩn. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Sau 48h, tất các con tôm nhiễm WSSV trong bể thí nghiệm tiếp tục được tiêm vào cơ thể với liều cao (2.500 SID50trong 50 µl). Tôm được theo dõi để ghi lại các dấu hiệu lâm sàng và tỷ lệ chết của bệnh với tần suất 2 lần/ngày trong vòng 10 ngày. Số lượng tôm gần chết và chết được ghi lại. Sau đó được lấy ra bể thí nghiệm và tiến hành lấy mẫu mô nhiễm WSSV để kiểm tra. Vào cuối thí nghiệm, những con tôm sống sót được sử dụng để tách chiết RNA và phân tích PCR với WSSV. Các hiệu quả kháng virus của dsRNA khác nhau được đánh giá bằng tỷ lệ chết và số lượng tôm bị nhiễm WSSV.
giải pháp chống virus gây bệnh đốm trắng
Hình 1: Tỷ lệ tử vong ở tôm được điều trị bằng dsRNA của 4 loại gen chống lại WSSV so với nhóm đối chứng sử dụng dsRNA của vi khuẩn LacZ và một nhóm không bị nhiễm WSSV/không được điều trị bằng dsRNA.

Các kết quả
Nhóm thí nghiệm và điều trị tôm nhiễm WSSV bằng dsRNA của vi khuẩn LacZ là nhóm đầu tiên cho thấy các dấu hiệu lâm sàng ở tôm như giảm ăn, bơi lội thất thường, lờ đờ sau 24h tiêm. Tỷ lệ chết đầu tiên được ghi nhận sau 36h, và tỷ lệ chết 100% sau 108h, tất cả tôm xét nghiệm PCR đều cho kết quả dương tính với WSSV (hình 1).
Đối với nhóm được sử dụng dsRNA của gen vp28, cho thấy tôm chết đầu tiên sau 72h và tỷ lệ tôm sống sót còn lại là 7%. Đối với nhóm được sử dụng dsRNA của gen orf89, cho thấy tôm chết sau 108h và tỷ lệ tôm sống sót vào cuối thí nghiệm là 10%. Đối với nhóm được sử dụng dsRNA của gen vp26, cho thấy tôm chết đầu tiên sau 84h và tỷ lệ tôm sống sót vào cuối thí nghiệm là 21%. Đối với nhóm được sử dụng dsRNA của gen wsv191, cho thấy tôm chết đầu tiên là sau 24h và tỷ lệ tôm sống sót vào cuối thí nghiệm là 83%. Tất cả những con tôm chết đều cho kết quả kiểm tra PCR dương tính với WSSV. Những con tôm còn sống sót không hiển thị các dấu hiệu lâm sàng của bệnh WSSV và cho kết quả âm tính với WSSV khi xét nghiệm PCR.

Đáp ứng kháng virus
Một liều dsRNA duy nhất với lượng 4µg/tôm là đủ để kích hoạt để gây ra phản ứng chống lại virus WSSV. Với các kết quả thí nghiệm trên có thể thấy, hiệu quả của việc tiêm dsRNA giúp ức chế sự sao chép virus và giảm tỷ lệ chết ở tôm được điều trị. Vào cuối thí nghiệm, hầu hết những con tôm được điều trị để chống lại WSSV bằng sợi RNA mạch kép đều sống sót và có tỷ lệ nhiễm WSSV thấp. Ngược lại, tôm được điều trị bằng chuỗi RNA mạch kép độc lập của vi khuẩn LacZ bị nhiễm WSSV và chỉ sống sót được trong một thời gian ngắn.
Tôm được điều trị với dsRNA của vp28 và vp26 có khả năng chống lại được virus WSSV. Do gen vp28 và vp26 có khả năng mã hóa các protein cấu trúc VP28 và VP26, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc và khả năng lây nhiễm của virus.
Khi sử dụng RNA mạch kép của hai gen phi định hình orf89 và wsv191 để chống lại WSSV cho thấy rằng: gen orf89 đã có hiệu quả tương tự với gen cấu trúc vp28 trong việc làm giảm khả năng nhân rộng của virus và giảm tỷ lệ chết ở tôm. Ngược lại, dsRNA của gen wsv191 có tác dụng chống lại virus kém nhất trong bốn loại gen được sử dụng trong thí nghiệm.

Kết luận
Dựa vào các chức năng mã hóa của 2 protein vô định hình có thể giúp giải thích sự khác biệt trong hoạt động kháng WSSV. Gen orf89 quy định việc ngăn chặn quá trình sao chép của virus và mã hóa protein của virus. Vì vậy, gen này đóng vai trò thiết yếu đến khả năng nhiễm và nhân rộng virus của tôm. Ngược lại gen wsv191 không phải là một gen thiết yếu trong việc nhân rộng WSSV, mặc dù thực tế nó có thể mã hóa hoạt động của cả DNAse và RNAse. Sự tác động của nó không có ý nghĩa đến việc ức chế sự sao chép của virus. Tuy nhiên, do tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu nên việc áp dụng nó vào thực tiễn sản xuất vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi cho các nhà khoa học.
Nguồn internet 28/01/2017

Giám đốc C.ty TNHH SX TÔM GIỐNG TS NAM MỸ gửi lời chúc đến quý khách hàng và đối tác cùng đội ngụ nhân viên lời chúc tết...
28/01/2017

Giám đốc C.ty TNHH SX TÔM GIỐNG TS NAM MỸ gửi lời chúc đến quý khách hàng và đối tác cùng đội ngụ nhân viên lời chúc tết đầu xuân !

Sắc màu năm mới
27/01/2017

Sắc màu năm mới

Address

KHÁNH HÔI , TRI HẢI , NINH HẢI , NINH THUẬN
Phan Rang- Thap Cham

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00

Telephone

+84968855118

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TÔM GIỐNG NAM MỸ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to TÔM GIỐNG NAM MỸ:

Shortcuts

Share