23/12/2021
VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM
I. Dẫn nhập :
Việt Nam- mảnh đất hiền hòa cong cong hình chữ S đã và đang nuôi dưỡng biết bao tâm hồn của bao thế hệ nam thanh nữ tú, đã làm nên vẻ đẹp giữa đất nước và con người, giữa nền văn hóa và bản sắc dân tộc. Hình ảnh người phụ nữ đã xuất hiện ngay từ buổi sơ khai trong vị thế của một người mẹ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm người con. Từ đó về sau, trải qua những chặng đường oanh liệt trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, người phụ nữ đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm. Trải qua bốn ngàn năm, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong đời sống gia đình và trong xã hội đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học, đặc biệt là văn học dân gian ViệtNam.
Trong văn học dân gian, ca dao là khúc hát tâm tình được lưu truyền qua bao năm tháng. Nó bồi đắp tâm hồn ta từ thời thơ ấu qua nhưng lời ru êm đềm của bà, của mẹ. Nó giúp ta cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp làng quê Việt Nam qua những hình ảnh của cây đa, giếng nước, mái đình và nỗi nhọc nhằn cũng như vẻ đẹp khỏe khoắn của người lao động chân chất, mộc mạc, tình cảm gia đình thắm thiết, nghĩa vợ chồng tào khang … Trong đó, lắng sâu hơn cả vẫn là hình ảnh của người phụ nữ đau khổ, cay đắng tột cùng nhưng cũng lại đẹp đẽ, cao quý vô ngần. Ca dao đã làm tròn sứ mệnh của nó trong việc lưu giữ những nỗi lòng của người phụ nữ Việt Nam và mang đến cho chúng ta cái nhìn toàn vẹn về họ trong những khổ đau cũng như vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, ngời sáng…
Nhìn vào lịch sử, từ ngàn xưa, phụ nữ ta đã có những truyền thống chống giặc ngoại xâm kiên cường và bất khuất. Chúng ta có hai Bà Trưng, chúng ta có bà Triệu đánh đuổi giặc Tàu, giữ yên bờ cõi trong một thời gian. Chúng ta có nguyên phi Ỷ Lan thay vua trị nước. Và nhiều phụ nữ khác đã vì nước quên thân như công chúa An Tư trong kháng chiến chống giặc Nguyên Mông của dân tộc ta vào đời Trần, như công chúa Huyền Trân đã hi sinh cuộc sống an vui mà về làm vợ vua Chế Mân nước Chăm Pa để đổi lấy hai châu Ô- Rí, mở mang bờ cõi cho Đại Việt… Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu hy sinh anh dũng của các chị: Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Nhỏ, Nguyễn Thị Chiên, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Võ Thị Thắng, chị Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt, bà Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Trương Mỹ Hoa v.v. Quyết tâm đánh giặc đến cùng của các mẹ, các chị là "Còn cái lai quần cũng đánh" (Người mẹ cầm súng – Nguyến Thi). Trên lĩnh vực Văn học Nghệ thuật, Giáo dục, Khoa học… nhiều phụ nữ là những nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ nhạc sĩ, kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ tài năng như: Diệu Nhân (người Phú Thọ)- một thiền sư, nữ sĩ thời Lý; Nguyễn Thị Duệ (người Chí Linh- Hải Dương, bà Huyện Thanh Quan (tức Nguyễn Thị Hinh), người Hà Nội- một nhà thơ tài hoa ở thế kỷ thứ XIX; bà Bảng Nhãn (tức Lê Thị Liễu)- nữ sĩ tài hoa nổi tiếng ở đất Quảng Nam; và các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm… cho tới Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Cầm, Sương Nguyệt Ánh, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Thuý Bắc, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dương Thị Xuân Qúy v.v. Trên bất kỳ lĩnh vực nào, ở giai đoạn lịch sử nào ta cũng đều bắt gặp tên tuổi của những phụ nữ nổi tiếng, làm vẻ vang dân tộc. Vẻ đẹp ấy của người phụ nữ Việt Nam biểu hiện qua hình thể, lý tưởng và lẽ sống, biểu hiện qua trí tuệ và tâm hồn. Hay nói một cách khác đó là vẻ đẹp về hài hoà giữa hình thức và nội dung. Vẻ đẹp ấy của người phụ nữ Việt Nam đã in dấu ấn đậm đà trong văn học dân gian, trong thơ ca, nhạc họa hiện đại… và mãi bất tử với thời gian. Họ đã góp phần làm giàu cho nền văn học dân gian, tạo nên vẻ đẹp của nền văn hoá dân tộc hiện đại.
Đi vào phân tích vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong văn học dân gian, người viết không sao tránh khỏi những khó khăn vì vốn kiến thức văn học còn hạn chế, kính mong quý giáo thọ quan tâm giúp đỡ, chỉ dạy thêm để người viết ngày một tiến bộ trong quá trình tiếp cận nền văn học nước nhà và có được những nhận thức đúng đắn về vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong văn học dân gian cũng như văn học viết, trong cuộc sống thường ngày cũng như vai trò của họ trong xã hội ngày nay.
II. Nội dung:
1.Vẻ đẹp người phụ nữ trong đời thường:
1.1) Trong cuộc sống hằng ngày:
Ở đời nào cũng vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ trong đời thường luôn là hằng số bất biến ngàn đời. Đó là sự nhẫn nại, chịu thương, chịu khó , sự cam chịu và lòng thủy chung son sắt. Họ biết nội trợ, điều phối cuộc sống gia đình, chăm lo cuộc sống cho chồng con, chăm lo săn sóc cha mẹ già, cho người ốm…Dù cho trãi qua khó khăn gian khổ, nhưng vẫn không thể nào vùi lấp được những vẻ đẹp tuyệt vời đó. Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng ngàn năm với những quan niệm bất công, khắc khe “ Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử ” , quan niệm trọng nam khinh nữ “ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” đã dành mọi ưu tiên cho người đàn ông và đẩy người phụ nữ xuống hàng thấp kém trong gia đình và xã hội. Trong xã hội ấy, họ bị tước đi những quyền lợi cơ bản của con người. Họ bị biến thành nô lệ cho những luật lệ, những ràng buộc nghiêm khắc của lễ giáo phong kiến và những quan niệm cổ hủ lạc hậu. Bước sang xã hội hiện đại, chuẩn mực về người phụ nữ đã thay đổi, phụ nữ bắt đầu được nhìn nhận với vai trò quan trọng hơn không chỉ trong gia đình mà còn ngoài xã hội. Ngoài việc lo cho đời sống của gia đình, người phụ nữ hiện đại còn chia sẻ gánh nặng tài chính với đàn ông. Họ thực sự muốn khẳng định là người phụ nữ hiện đại có tri thức, năng động, thành đạt. Có thể nói rằng phụ nữ ngày nay đang làm dày thêm nền tảng truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam và có người đã nói rằng “Phụ nữ là một nửa của thế giới, nếu một nửa thế giới phát triển thì thế giới chắc chắn sẽ phát triển”. Ngày nay, xã hội đã tiến bộ, nam nữ đã bình quyền, người phụ nữ đã được sống hạnh phúc hơn. Mặc dù không thể có sự bình đẳng tuyệt đối, nhưng người phụ nữ ngày nay đã được xã hội quan tâm đúng mực. Họ đã được phát huy hết khả năng của mình, được chủ động quyết định số phận của mình. Tuy đây đó còn nhiều bất công, người phụ nữ còn chịu thiệt thòi, song so với người phụ nữ thời xưa thì xã hội đã tiến một bước rất dài. Chúng ta sẽ loại bỏ dần những quan niệm lạc hậu, không phù hợp để người phụ nữ được quyền sống hạnh phúc, để những lời ca dao than thân được thay thế bằng những khúc hoan ca. Trải qua bao đêm trường thế kỉ của chiến tranh, chống chế độ phong kiến bất công, hình ảnh người mẹ, người chị Việt Nam càng trở nên sáng ngời rạng rỡ. Họ càng chứng minh được phẩm chất của mình là những đóa sen trong bùn, đẹp dịu dàng, thanh khiết.
1.2) Trong văn học dân gian:
Trong xã hội phong kiến nỗi niềm của người phụ nữ thường được gửi gắm vào những câu ca dao than thân:
“ Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ”
“ Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào vườn cấm, hạt ra vườn đào”
“Thân em như giếng giữa đàng
Người không rửa mặt, người phàm rửa chân”
Họ so sánh "Thân em…" với rất nhiều thứ, thể hiện nhiều bình diện khác nhau song vẫn có một điểm chung là: khẳng định giá trị của bản thân và than về số phận phụ thuộc của mình. Dù là "tấm lụa đào" quý giá hay "giếng giữa đàng" mát trong thì họ vẫn không biết tương lai như thế nào. Những hình ảnh so sánh ấy làm nổi bật thân phận bơ vơ, bất trắc của họ. Họ không thể tự quyết định số phận của mình. May mắn thì được chỗ yên lành hạnh phúc, bất hạnh thì bị rơi vào chốn lao đao và dù trong hoàn cảnh nào họ cũng phải chấp nhận bởi thân "các chậu chim lồng" :
-“Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thủa nào ra”
Vì phụ thuộc nên học phải lấy chồng khi còn ít tuổi, người phụ nữ là nạn nhân đau khổ nhất của nạn tảo hôn:
-“Bướm vàng đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm, lời ru càng buồn”
Đọt mù u non nớt đã bị bướm vàng đến đậu và quấy phá. Cũng như người phụ nữ, càng làm vợ sớm thì càng khổ nhiều. Họ gửi nỗi buồn vào lời ru bởi không thể tâm sự cùng ai. Những cô gái bị ép gả khi còn tuổi niên thiếu đã dẫn đến những bi kịch số phận, đã có những câu ca dao tự trào đầy cay đắng xót xa:
- “Lấy chồng từ thủa mười ba
Đến nay mười tám thiếp đà năm con
hay: “Ra đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng”
Vì nạn tảo hôn, vì những hủ tục lạc hậu ấy mà người con gái trong xã hội xưa không được hưởng tuổi thanh xuân. Chưa kịp lớn, chưa kịp hiểu cuộc đời thì họ đã phải gắn cuộc đời mình với con thơ, phải chịu cảnh làm dâu trăm chiều cay đắng. Bao nhiêu gánh nặng cuộc đời đè nặng lên đôi vai gầy guộc của người phụ nữ.
Quá nhiều bất trắc đón đợi người phụ nữ trên con đường đời, vì thế họ luôn mang trong mình những nỗi lo âu, khắc khoải. Số phận bấp bênh, hạnh phúc mong manh quá đỗi. Có được người yêu thương chân thành đã khó, giữ được người ấy và được sống chung lại càng khó hơn bởi họ đâu có quyền tự lựa chọn hạnh phúc cho mình. Quan niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" đã tước đi của người con gái quyền được tự lựa chọn hạnh phúc cho mình. Bao nhiêu bất trắc, âu lo về số phận được gửi trong những câu ca dao đầy tâm sự:
“Hòn đá đóng rong vì hòn nước chảy
Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa
Em thương anh không dám nói ra
Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời
Em với anh cũng muốn kết đôi
Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan”
Trước Cách Mạng Tháng Tám, phần lớn Phụ Nữ Việt Nam nhuộm răng đen, búi tóc đuôi gà, mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao… Ca dao-dân ca đã ghi lại:
“ Một yêu tóc bỏ đuôi gà
Hai yêu ăn nói mặn mà có duyên
Ba yêu má lúm đồng tiền
Bốn yêu răng nhuộm hạt huyền thêm xinh
Năm yêu con mắt hữu tình…”
Hay như những câu ca dao trong văn học dân gian đã nói lên tất cả vẻ đẹp tuyệt vời
của người phụ nữ Việt Nam:
“Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”
“Ai làm cái nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”.
“Ngó lên đầu tóc em bao
Chéo khăn em bịt dạ nào chẳng xiêu”.
Tiêu chí chung mà ông cha ta đã rút ra được: "Con mắt lá răm, lông mày lá liễu" mà theo ca dao là đáng trăm quan tiền. Đó là cái đẹp theo quan điểm truyền thống. Và ngày nay cho rằng tóc nâu môi trầm...những cái đẹp tạo nên vẻ hài hòa nhất của người phụ nữ từ đôi mắt, mái tóc, lông mày, làn môi đến gương mặt... Nó cũng làm cho người ta khi chiêm ngưỡng đã có sự rung động và có sự công nhận. Thực ra cái đẹp vừa cụ thể lại cũng không phải cụ thể. Do vậy người phụ nữ trong văn học dân gian thường là vẻ đẹp nhân ái, vẻ đẹp dịu dàng, sự cam chịu số phận, sự rộng lượng bao dung, chan hòa trong cuộc sống.
2.Những biểu hiện của người phụ nữ:
2.1) Phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam:
Khao khát của người phụ nữ là những khao khát mang tính chất chính đáng nhất của một con người, vì thế họ nhắn nhủ nhau:
“ Đói lòng ăn nắm lá sung
Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng”
Dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào thì những phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Viêt Nam vẫn ngời sáng những vầng hào quang của trái tim đôn hậu, cao thượng, vị tha. Ca dao cũng đã phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp của họ- những con người thủy chung, son sắc , đầy nghĩa tình :
“ Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm sông Tương mặc người”
Hoặc có khi hạnh phúc đã tan vỡ, người vợ đã chia tay anh chồng phụ bạc rồi nhưng vẫn còn khuyên và lo cho anh:
“Anh về lấy vợ bên sông
Còn tôi tơ tưởng lấy con ông lái đò
Phòng khi sóng cả, gió to
Để tôi còn kịp chở đò đưa anh.”
Anh đã có vợ khác, tôi đã có chồng, nhưng tôi vẫn độ lượng cứu giúp anh những lúc thất cơ lỡ vận, khi anh gặp phải cảnh cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Thế mới biết tấm lòng vị tha của Phụ Nữ Việt Nam đẹp biết chừng nào!
Thước đo giá trị cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam xét ở mọi thời có lẽ đó là bốn phẩm chất nổi bật : “Công - Dung - Ngôn - Hạnh”. Hay nói một cách khác: “ Công, Dung, Ngôn, Hạnh luôn là phẩm chất quý giá của phụ nữ Việt Nam ở mọi thời”. Bốn phẩm chất này đã làm nổi bậc phẩm chất đạo đức chung của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong chứa đựng phẩm chất đạo đức bất diệt của người phụ nữ Việt:
“ Em như cây quế giữa rừng
Ngát thơm ai biết lẫy lừng ai hay”
Đó là vẻ đẹp chân quê, giản dị và đáng yêu. Ở họ không phải lúc nào cũng là liễu yếu đào tơ, là cái bóng của người đàn ông mà luôn tiềm ẩn một sức mạnh chẳng kém gì namgiới:
“ Con cò lặn lội bờ ao
Gánh gạo nuôi chồng tiếng hát nỉ non”
Người phụ nữ biết chăm lo việc nhà, đảm đang nuôi dạy con cái, làm tròn thiên chức cao cả của người mẹ: Sinh đẻ, nuôi dưỡng, chăm sóc để con khôn lớn trưởng thành. Người phụ nữ còn làm người thầy đầu tiên của con: dạy dỗ, bảo ban con nết ăn, nết ở, truyền cho con tình yêu thương và nghị lực để con vững bước vào đời.
Bên cạnh đó họ còn đảm đang chăm lo cho chồng, làm người bạn đời, cùng chồng thực hiện tất cả các chức năng của gia đình.
Phẩm chất nhân hậu, nhân ái, nghĩa tình có cội nguồn sâu xa từ bản chất con người, từ trái tim nhân ái của người phụ nữ Việt Nam. Nó được biểu hiện trong tình yêu thương rộng lớn đối với mọi người, thái độ quý trọng, yêu mến người khác, lòng vị tha,độ lượng, thương người… Lòng nhân ái có thể xem như là hạt nhân cơ bản trong tính cách người phụ nữ Việt Nam:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống phẩm chất tốt đẹp. Ở bất cứ thời kì nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, những phẩm chất đạo đức ấy luôn tỏa sáng, góp phần nâng cao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội.
2.2) Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong tình yêu đôi lứa:
Trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam có vô vàn câu ca viết về tình yêu lứa đôi rất mực chung thủy của người phụ nữ. Trong cuộc sống đầy cam go, tủi hổ, đầy bất công của xã hội cũ, chỉ có tình yêu mới xoa dịu những nỗi đau, những bất hạnh của người phụ nữ Viêt Nam xưa.
Khi họ đã yêu là yêu rất mãnh liệt:
“Yêu anh cốt rũ xương mòn
Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh”
Người phụ nữ Việt Nam khi yêu ai là dành trọn vẹn tình cảm cho người đó, một lòng trung thành, gắn bó với người mình yêu:
“Chừng nào muối ngọt chanh thanh
Em đây mới dám bỏ anh lấy chồng”
Quên đi những nhọc nhằn, vất vả của cuộc sống lao động, những người phụ nữ bình dân ấy cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu:
“Gió sao gió mát sau lưng
Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
Có cô gái thì hồn nhiên, tinh nghịch. Họ không quá câu nệ như các cô gái khuê phòng:
“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”
Cũng có khi thật tế nhị, ý tứ, nết na:
“Sáng ngày tôi đi hái dâu
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu
Thưa rằng tôi đi hái dâu
Hai anh mở túi đưa trầu mời ăn
Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người”
Họ biết đề cao tình yêu thương, lòng chung thuỷ:
“Trăng tròn chỉ một đêm rằm
Tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi”
Tình yêu hạnh phúc là tình yêu mà đôi lứa yêu nhau tự nguyện, yêu và được yêu, yêu hết mình, yêu thắm thiết:
“Tay em nắm lấy tay anh,
Dù ai nói quẩn nói quanh mặc lòng.
Tay ấy đáng vợ, đáng chồng,
Duyên trời đã định tơ hồng đã xe.”
Những mối tình không khỏi làm ta xúc động:
“Đôi ta như con một nhà
Như áo một mắc, như hoa một chùm.
Đôi ta như nước một chum
Nước cạn mặc nước ta đùm lấy nhau”
Nhưng mấy ai yêu mà không gặp trắc trở. Nhiều mối tình dang dở, những lọc lừa, toan tính ích kỉ làm tan nát bao trái tim đang yêu. Đó là mặt trái của tình yêu- một tình yêu đau khổ:
“Xưa kia mình nói với ta
Sông sâu nên cạn, đường xa nên gần.
Giờ mình ăn ở lần khân
Ngòi cạn nên thẳm, đường gần nên xa.
Ngày nào em nói em thương
Như trầm mà để trong rương chắc rồi.
Bây giờ khóa rớt, chìa rơi
Rương long, nắp lỏng bay hơi mùi trầm.”
Và những lời trách móc:
“Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao”
Tình yêu lứa đôi là đề tài muôn thuở của thi ca Việt Nam. Đó cũng là ước mơ dạt dào cảm xúc của người phụ nữ nói riêng và của đôi lứa yêu nhau nói chung. Đây là chất liệu tạo nên tâm hồn trong sáng, thanh cao bởi vì tình yêu là làn gió mát, là giọt nước thánh thiện tưới tẫm những nỗi lòng cô đơn, trống vắng. Đề tài tình yêu đôi lứa sẽ mai mãi tuôn chảy những dòng thơ bất tận cho đến muôn đời sau.
2.3) Người phụ nữ Việt Nam trong gia đình:
Đối với gia đình, phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu, là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống và giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình. Bất kỳ ở thời đại nào, quốc gia nào, dân tộc nào sự ảnh hưởng của người phụ nữ cũng có sức lan tỏa rộng lớn và thẩm thấu vào từng tế bào của xã hội tạo nên nó, nuôi sống nó.
Trong gia đình, có thể nói mối quan hệ vợ - chồng là mối quan hệ “chủ đạo”, không phải chỉ vì nó là mối quan hệ được thiết lập đầu tiên để tạo nên một “tổ chức” gọi là gia đình, mà còn vì nó là mối quan hệ sẽ chi phối toàn bộ các mối quan hệ khác (quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ anh – chị - em) trong quá trình tồn tại và phát triển của “tổ chức” này.
Để giữ vững hạnh phúc gia đình, vai trò của người phụ nữ rất quan trọng. Có lẽ vẻ đẹp lâu bền nhất của người phụ nữ và có sức quyến rũ lạ kỳ là cái duyên ngầm. Chẳng thế mà khi chồng giận, người vợ đã rất khéo nhỏ nhẹ:
“Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tủm tỉm: rằng anh giận gì?”
Chứ không như cô gái khác quá vội vàng và dứt khoát để chia tay:
“Đất xấu vắt chẳng nên nồi
Anh đi lấy vợ để tôi lấy chồng.”
Hoặc có cô thẳng thừng tuyên bố:
“ Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời cầm tay.”
Hạnh phúc của vợ chồng, của gia đình đôi khi chỉ vì một sự tự ái, một chút nghi ngờ thiếu cảm thông là có thể đổ vỡ. Nhưng đa số Phụ Nữ Việt Nam rất giàu lòng vị tha và có đức hy sinh. Có người đã tự hạ mình xuống tận cùng để giữ gìn hạnh phúc:
“ Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.”
Chỉ những lời ca ngắn ngủi mà chất chứa trong đó bao ý tình sâu xa. Đó là lời nhắn nhủ của những người phụ nữ trọn nghĩa vẹn tình. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ vẫn đồng cam cộng khổ cùng chồng, xây dựng một gia đình đầm ấm yên vui.
Keo sơn khăng khít trong tình nghĩa vợ chồng, nên người phụ nữ Việt Nam không dễ thay lòng đổi dạ. Họ dồn tất cả tâm tư, tình cảm, sức lực cho việc vun đắp hạnh phúc gia đình. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng một lòng một dạ với chồng, giữ vẹn trinh tiết:
“ Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu răn mình”
Người phụ nữ ngay từ khi mới sinh ra đã ý thức được vai trò của mình trong gia đình cũng như là ngoài xã hội : trước hết phải là người vợ đảm đang tháo vát sau đó mới là một công dân tốt đóng góp sức mình trong các công việc xã hội :
“Phòng khi đóng góp việc làng
Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng
Trước là đẹp mắt cho chồng
Sau là họ mạc cũng không chê cười”.
Từ bao đời nay, trong gia đình, người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu được. Ảnh hưởng của người phụ nữ đã tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống gia đình và ngày càng trở nên quyết định hơn.
2.4) Người phụ nữ Việt Nam trong xã hội:
Trong xã hội phong kiến, Người phụ nữ càng đẹp, càng tài, càng lắm bất hạnh, càng lắm khổ đau. Nguyên nhân vì đâu thì vào cái thời đại ấy không có câu trả lời. Do đó mà câu thơ của Nguyễn Du chính là khúc “bạc mệnh” tấu lên cho mọi “kiếp hồng nhan”: “Đau đớn thay phận đàn bà. Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
Phải chăng Nguyễn Du đã thấy được sự đau khổ, bất lực của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, cái xã hội mà biết bao thế lực cả hữu hình lẫn siêu hình tác động lên cuộc đời họ. Mỗi người đều có một nỗi đau riêng và nếu không có nỗi đau nào giống nỗi đau nào thì tất cả đều là những người đàn bà đầy bạc mệnh. Đó là nàng Kiều của Nguyễn Du, là người chinh phụ của Đoàn Thị Điểm, nàng cung nữ của Nguyễn Gia Thiều và còn có Vũ Thị Thiết của Nguyễn Dữ nữa. Thời kỳ này cả nước Việt chìm trong những ràng buộc, lễ giáo khắc nghiệt tối tăm. Và vô hình chung, số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt ra khỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội. Những người phụ nữ thời bấy giờ phần lớn có tài có sắc ( thân em vừa trắng lại vừa tròn, trơ cái hồng nhan với nước non), có phẩm chất cao đẹp như bà Tú trong “Thương vợ” của Tú Xương ( Quanh năm buôn bán ở mom sông - Nuôi đủ năm con với một chồng ). Tuy vậy, thân phận của những người phụ nữ này lại vô cùng nhỏ bé, cuộc đời của họ long đong lận đận. Họ phải sống trong một chế độ xã hội phong kiến lạc hậu, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có chỗ đứng và địa vị trong xã hội vì vậy mà những người phụ nữ có tài như Hồ Xuân Hương thường không được coi trong đồng thời việc làm của một người vợ thường ít được người chồng cảm thông dù cho quanh năm lam lũ vất vả nuôi chồng nuôi con chăm sóc cho gia đình luôn được yên ấm dù mình có phải chịu thiệt thòi từ đó ta cũng thấy được bản lĩnh của người phụ nữ xưa. Đối với Hồ Xuân Hương thì đó chính là bà đã dám thách thức tất cả mọi thứ, cả trời đất, cả thiên nhiên và cả với chính duyên phận của mình cũng như bà dám thể hiện quan điểm của mình thông qua những vần thơ đầy tính nghệ thuật này...Trong khi đó, Bà Tú lại lài một người mẹ hiền, một người vợ đảm. Vì chồng vì con, bà sẵn sàng làm thay cả việc nặng nhọc mà đáng ra người đàn ông phải là người gánh vác, bà phải làm việc trong hoàn cảnh đầy khó khăn, cực khổ, phải làm dưới một điều kiện bấp bênh (mom sông) cà phải " eo xèo mặt nước " buổi đò đông như hình ảnh con cò trong ca dao, lam lũ vất vả bươn trải để nuôi chồng nuôi con.... Những người phụ nữ như vậy họ không được hưởng bất cứ một thứ quyền lợi, không được hưởng một chút tự do . Thật bất công! Những hủ tục phong kiến thối nát đã tạo nên khổ đau cho người phụ nữ. Số phận của họ không thoát khỏi nanh vuốt của xã hội vô lí đó.Nhưng tất cả những vẻ đẹp từ hình thức đến tâm hồn của họ thì luôn luôn đáng ca ngợi, đáng trân trọng và nâng niu. Đối với xã hội, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội góp phần sáng tạo nên nền văn hoá nhân loại và là lực lượng không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại. Cách mạng tháng Tám 1945 đã làm một cuộc đổi đời cho dân tộc. Những cô yếm thắm răng đen, sột soạt quần nâu, mặc áo tứ thân đã cầm súng, cầm cuốc đi phá đường, cản bước tiến của thực dân Pháp, gác lại mọi chuyện gia đình:
“ Nhà em phơi lúa chưa khô
Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong
Nhà em con bế con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đường quan.” (Tố Hữu)
Họ là những phụ nữ ba đảm đang, ba sẵn sàng việc nước, việc nhà để chồng con yên tâm đánh giặc. Đã có biết bao bà mẹ VN trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ/ Các anh không về, mình mẹ lặng im (Tạ Hữu Yên). Có mẹ ở Hà Bắc đã vá hơn hai trăm chiếc áo cho bộ đội, chiến sĩ: …Tấm áo ấy bấy lâu nay con thường vẫn mặc/ Để nhớ ngày chúng con về Hà Bắc/ Quần nhau với giặc, áo con rách thêm/ Nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo/ Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo/ Đời mẹ nghèo thương áo rách/ Áo rách nên thương/ (Nguyễn Văn Tý).
Người mẹ trong bài thơ Đất quê ta mênh mông của Dương Hương Ly đã Ðào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc/ Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác/ Bao đêm ròng tiếng cuốc vọng năm canh. Tấm lòng mẹ rộng mênh mông như luỹ như thành, có thể dấu cả sư đoàn dưới đất. Chính những việc làm tưởng như nhỏ nhoi của các mẹ, các chị đã góp phần làm nên một Dáng đứng Việt Nam, một sức mạnh Việt Nam tạc vào thế kỷ. Những bà má ở Hậu Giang, bà Bầm ở Trung du, bà Bủ ở Việt Bắc, mẹ Tơm ở Thanh Hoá, mẹ Suốt ở Quảng Bình, chị Út Tịch ở Cầu Kè, Trà Vinh… và biết bao các mẹ, các chị đã đi vào thơ ca, nhạc, hoạ. Chị Út Tịch với quyết tâm đánh Mỹ đến cùng “Còn cái lai quần cũng đánh ”
Những cô gái người Pa cô, Vân Kiều đi tải đạn, và tay vót chông miệng hát không nghỉ. Những cô gái Châu Yên ở Tây Bắc với bàn tay vén khéo Đụng vào khung cửi vải thành hoa/ Vung nắm tấm hoá ra đàn gà, thế mà các cô đã dùng súng trường hạ thần sấm, con ma của không lực Huê kỳ. Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), tuổi đẹp như trăng rằm từ 18 đến 20 đã ngã xuống để làm xanh một khoảng trời con gái (Lâm Thị Mỹ Dạ). Nhiều cô gái Em ở nông trường hay ra biên giới miệng vẫn hát vang lời ca Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao! Những cô giáo ở Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên hay ở vùng sâu, vùng xa hy sinh cả tuổi xuân để đem chữ Cụ Hồ tới đàn em thơ ở các bản làng dân tộc xa xôi, hẻo lánh.
Cô giáo người Tày Tô Thị Rĩnh đã dùng tiếng đàn để thu hút các em học sinh người Hmông tới lớp, lấy đồng lương ít ỏi của mình để mua tập vở cho các em. Ta hãy nghe lời Tự hát, tự ru lòng mình đến rơi nước mắt của các cô giáo ở một bản làng heo hút vùng cao: “Ở rừng tự hát ru nhau
Lá trầu chị héo, quả cau em già
Ước ao có một gian nhà
Có trưa đưa võng đón bà lên chơi ”
(Em đi - Lê Đình Cánh).
Những người PNVN đẹp trong lao động, đẹp trong chiến đấu, và trong đời thường họ càng đẹp hơn. Người vợ đã nén nỗi đau, tiễn chồng ra trận và hứa với anh: Lúa tốt lắm anh ơi/ Giải thi đua em giật(Trần Hữu Thung), vẫn luôn xoè bàn tay bấm đốt , nhìn hoa bưởi, hoa chanh mà mong ngày anh về. Chị không mang nỗi buồn bi luỵ như người chinh phụ xưa trong buổi tiễn đưa:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
(Chinh phụ ngâm)
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã cảm nhận được vẻ đẹp kín đáo của một cô gái nông thôn gói bông bưởi vào chiếc khăn tay tặng người yêu ngày mai ra trận: Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu…/Hai người chia tay sao chẳng nói điều chi/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi. Nhiều cuộc chia tay đẹp như cánh nhạn lai bồng dưới một trời phượng đỏ.
Những người mẹ, người vợ ở hậu phương luôn làm yên lòng người đi chiến đấu. Nàng dâu và mẹ chồng càng thương nhau hơn: Phải đâu mẹ của riêng anh/ Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi/ Mẹ tuy không đẻ không nuôi/ Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong… (Xuân Quỳnh). Người mẹ nào mà chẳng thấy mát lòng hả dạ khi nghe những lời tâm tình của nàng dâu như thế! Người phụ nữ hôm nay không còn là những cô gái xưa trong thơ Nguyễn Bính: Em là con gái trong khung cửi/ Dệt lụa quanh năm với mẹ già. Họ cũng không hoá đá như nàng Tô Thị xưa. Họ là một nửa của vẻ đẹp cuộc sống, và chiếm hơn 50% dân số nhân loại.
Khác với người phụ nữ trong xã hội trước (thời phong kiến) người phụ nữ ở thời hiện đại văn minh ngày nay không chỉ thực hiện tốt vai trò của mình trong gia đình : dâu hiền, vợ đảm, mẹ tốt mà họ còn sánh vai với nam giới làm tốt cả các công việc trong xã hội. Người phụ nữ không chỉ “giỏi việc nước” mà còn “đảm việc nhà” nữa. Đã có biết bao tấm gương những người vợ người mẹ trong chiến tranh, trong thời bình thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng của mình trước xã hội; chính nhờ có họ mà nước nhà độc lập thanh bình như ngày nay bởi họ là “hậu phương vững chắc” cho “tiền tuyến lớn”.
C. Kết Luận:
Hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam xưa ở trong đau khổ, trong cay đắng tột cùng nhưng đó lại là hình ảnh đẹp đẽ, giàu cảm xúc và cao quý vô ngần. Văn học dân gian đã làm tròn sứ mệnh của mình trong việc lưu giữ những nỗi lòng của người phụ nữ Việt Nam và mang đến cho chúng ta cái nhìn toàn vẹn về hình ảnh của họ trong những khổ đau cũng như vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, ngời sáng…
Qua văn học dân gian Việt Nam chúng ta thấy được hình tượng người phụ nữ Việt Nam vừa đẹp người lại vừa đẹp nết. Họ trắng trong và cao quý với tấm lòng thủy chung và tình yêu thương bao la mọi người chung quanh mình. Nhưng thân phận của họ lại thật đáng thương ,họ không được học hành vì “phụ nhân nan hóa”, “con gái không cần học nhiều”. Họ không được ngang hàng với nam giới vì phụ nữ chỉ là thành phần phụ thuộc, suốt đời phải mang ba chữ “Tòng”. Khoảng không gian của người phụ nữ chỉ giới hạn trong gia đình. “Gái thì giữ việc trong nhà. Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa”. Đạo đức cũ luôn khuyên nhủ người đàn bà phải phục tùng, không đòi hỏi, phải tận tụy hy sinh, hết cho chồng lại cho con. Ảnh hưởng Nho giáo về “Tam tòng, tứ đức” đè nặng lên tư tưởng của những người phụ nữ, nó là xiềng xích, là rào cản không cho người phụ nữ sống một cuộc đời yên vui, tươi sáng. Thân phận nhỏ bé và bị lệ thuộc, người phụ nữ chỉ biết khóc trong nỗi đau, trong cái bất công mà xã hộ phong kiến đã tạo nên. Nhưng dù có đau khổ, tủi nhục đến đâu đi chăng nữa thì những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam vẫn còn đẹp mãi. Ngày nay, khi mà vật chất phát triển, càng ngày con người càng hướng đến cái đẹp, đó là quy luật phát triển muôn đời. Cái Đẹp là muôn vẻ, mỗi người có một quan điểm khác nhau nhưng cũng có nét chung của nó. Chúng ta phải tìm đến vẻ đẹp chung và quan trọng hơn là ngoài vẻ đẹp chung ta có thể nhìn thấy ngay, còn có những vẻ đẹp mà phải qua thời gian chúng ta mới thấy được: đó là vẻ đẹp tâm hồn, một vẻ đẹp quan trọng của con người. Vẻ đẹp mang tính trí tuệ và vẻ đẹp tâm hồn sẽ làm nên vẻ đẹp chung của người phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ 21.
Cái đẹp của người phụ nữ Việt Nam trước hết là cái đẹp của tâm hồn, rồi từ đó tỏa sáng trong muôn mặt của đời sống xã hội. Đó là cái đẹp trong lao động, trong học tập, trong tình yêu, trong chiến đấu và trong cả cuộc sống thường ngày. Càng trong gian khó, ác liệt cái đẹp đó càng bừng sáng. Phụ nữ Việt Nam – đó là những phụ nữ ba đảm đang, giỏi việc nước, đảm việc nhà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Ca dao Việt Nam_ NXB Dân Trí_ 2011